Giới thiệu Chương Bốn Pháp, Tăng Chi Bộ Kinh
Hòa thượng Thích Minh Châu
16/09/2011 06:26 (GMT+7)


Hôm nay là Đại lễ Phật Đản 2525 , Viện Phật Học Vạn Hạnh chúng tôi cùng với các Phật tử trong nước và Phật tử năm châu bốn biển đang tưng bừng đón mừng Đại lễ với những nghi lễ trang nghiêm, với những cúng dường chân thành và đúng theo truyền thống hàng năm, bao giờ cũng vậy, đối với chúng tôi, cúng dường Pháp là cúng dường tối thượng. Nhân Đại lễ Phật Đản năm nay, chúng tôi phát hành Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, đã được phát hành nhân dịp lễ kỷ niệm Phật Thành Đạo vừa qua.

Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, tức là Bộ Anguttara Nikàya gồm có 5 tập, sưu tập các kinh tùy theo số lượng từ 1 pháp lên đến 11 pháp, và tập này chỉ gồm một chương, là chương đề cập đến bốn pháp.

Trong Tập II quyển A, chương bốn pháp gồm có 27 phẩm, mỗi phẩm gồm 10 kinh, phẩm cuối gồm 11 kinh, như vậy số kinh tổng cộng là 271 bài, đánh số từ 1 đến 271, cho tiện tham khảo.

Đề tài được đề cập có thể nói là quá nhiều và quá phong phú, đến nỗi một sự phân loại các đề được nói đến thật không dễ dàng. Hôm nay, để giới thiệu Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A, nhân Đại lễ Phật Đản 2525 (1981), chúng tôi chỉ xin đề cập đến một số vấn đề mà chúng tôi xem là quan trọng, còn các vấn đề khác lẽ dĩ nhiên cũng rất quan trọng chúng tôi chỉ mong các độc giả tự mình đọc lấy, tìm hiểu và hành trì. Chỉ có vậy mới đánh giá đúng đắn Tập II quyển A, Tăng Chi Bộ Kinh và đi sâu vào phần nội dung của Tập Kinh này.

*

Trước hết, chúng tôi đề cập đến các bậc Như Lai nói chung, rồi đến Thế Tôn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói riêng, những định nghĩa đã được dùng để diễn tả các Ngài và nhất là những đóng góp gì rất đặc biệt về những giáo lý chánh yếu, những pháp môn giảng dạy đã giúp chúng sanh thoát khỏi sự khổ đau.

Chúng tôi phải hạn chế những tư liệu chỉ trong Tăng Chi Bộ Kinh Tập II quyển A này mà thôi, có vậy mới làm nổi bật lên nội dung súc tích của bộ kinh này và cũng là một hình thức hay nhất để kỷ niệm Lễ Phật Đản 2525 năm. Cúng dường Pháp bao giờ cũng là cúng dường tối thượng.

Một vấn đề có thể làm nhiều người thắc mắc, trong quá khứ cũng như trong hiện tại, là Đức Phật là ai, Ngài là thần chăng, vị tiên chăng, Ngài là người như chúng ta chăng? Chúng ta là Phật tử, chúng ta là những người tìm hiểu Đạo Phật, chúng ta cần xem Đức Phật là ai, cho đúng với lời Phật dạy? Một câu hỏi về một số vấn đề đã được Đức Phật khéo giải đáp trong kinh số 36 về tùy thuộc thế giới.

Bà-la-môn Dona thấy dấu chân Đức Phật có dấu bánh xe (pháp luân) với đầy đủ tất cả chi tiết, khi Đức Phật đi trên con đường giữa Ukkatthà và Setabbya, liền suy nghĩ đây không phải là dấu chân của loài người, nên đến gần Đức Phật và hỏi: "Có phải Ngài sẽ là vị Tiên, Ngài sẽ là Càn Thát Bà, Ngài sẽ là Dạ Xoa, Ngài sẽ là loài người?" Với bốn câu hỏi này Đức Phật tuần tự trả lời: "Ta sẽ không phải là Tiên, Ta sẽ không phải là Càn Thát Bà, Ta sẽ không phải là Dạ Xoa, Ta sẽ không phải là người."

Câu trả lời làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên, và chúng ta cũng dễ hiểu, vì nếu Đức Phật trả lời: "Ta sẽ là chư Thiên... , hay Ta sẽ là loài người" tức là Đức Phật còn phải tái sanh, còn phải sanh tử luân hồi. Cho nên Đức Phật mới trả lời: "Ta sẽ không phải là chư Thiên, Ta sẽ không phải là Càn Thát Bà, Ta sẽ không phải là Dạ Xoa, Ta sẽ không phải là người." Nhưng câu trả lời đã làm cho Bà-la-môn Dona ngạc nhiên khiến phải hỏi tiếp: "Vậy sở hành của Ngài là gì, và tôn giả sẽ là gì?" Câu trả lời tiếp của Đức Phật rất là đặc biệt:

- "Này Bà-la-môn, đối những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là chư Thiên với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ, được làm thành như cây Ta La, được làm cho không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai. Này Bà-la-môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn Thát Bà, Ta có thể là Dạ Xoa, Ta có thể là loài người, với các lậu hoặc đã đoạn tận, được chặt đứt từ gốc rễ. Được làm thành như cây Ta La, được làm không thể hiện hữu, được làm cho không thể sanh khởi trong tương lai..."

Như vậy, tùy thuộc chúng sanh được đề cập đến, đối với chúng sanh là Chư Thiên chưa đoạn tận các lậu hoặc, Đức Phật có thể là chư Thiên nhưng với các lậu hoặc đã đoạn tận, không còn sanh tử luân hồi. Đối với loài người chúng ta chưa đoạn tận các lậu hoặc, Đức Phật có thể là người, nhưng là một con người đã đoạn tận các lậu hoặc. Nói một cách khác, dầu thuộc loại chúng sanh hữu tình nào đang còn có lậu hoặc, đang còn sanh tử luân hồi, Đức Phật có thể là chúng sanh ấy, nhưng với các lậu hoặc đã đoạn tận. Chúng ta là người, Đức Phật đối với chúng ta là người, chỉ có sự sai khác, Đức Phật là người đã đoạn tận các lậu hoặc, còn chúng ta là người, nhưng chưa đoạn tận các lậu hoặc. Rồi Đức Phật cho chúng ta một thí dụ xác định rõ ràng vị trí của Ngài trong thế giới loài người: "Ví như này Bà-la-môn, bông sen xanh, bông sen hồng hay bông sen trắng sanh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi mặt nước và đứng thẳng, không bị nước thấm ướt. Cũng vậy này Bà-la-môn, sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, Ta sống chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Bà-la-môn, Ta là Phật, hãy như vậy thọ trì."

Rồi Đức Phật dùng một bài kệ phát họa hình ảnh của Ngài trong đời:

"Với lậu hoặc chưa đoạn,

Ta có thể là Tiên,

Có thể Càn Thát Bà,

Có thể là loài chim,

Hay đi đến Dạ Xoa,

Hay vào trong thai người

Với Ta, lậu hoặc tận,

Bị phá hũy, trừ khử,

Như sen trắng tươi đẹp,

Không bị nước thấm ướt,

Đời không thấm ướt Ta,

Do vậy Ta được gọi,

Ta là Phật, Chánh Giác,

Hỡi này Bà-la-môn."

Đức Phật đã sống trong đời, không bị đời uế nhiễm, nhưng đã gọi là Như Lai (Tathàgata) tức có nghĩa là vị đã thật sự hiểu đời, hiểu thế giới như thể nào mới không bị đời uế nhiễm, như kinh thế giới số 23 đã nêu rõ:

"Này các tỷ kheo, thế giới được Như Lai chánh đẳng giác, Như Lai không hệ lụy với đời. Này các tỷ kheo, thế giới tập khởi được Như Lai chánh đẳng giác. Thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận. Này các tỷ kheo, thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác. Thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ. Này các tỷ kheo, con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai chánh đẳng giác. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập."

- "Cái gì này các tỷ kheo, trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa Môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài người, được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai chánh đẳng giác. Do vậy được gọi là Như Lai. Từ đêm, này các tỳ kheo, Như Lai được chánh đẳng giác, đến đêm Ngài nhập Niết bàn, trong thời gian ấy, điều gì Ngài nói, nói lên, tuyên bố, tất cả là như vậy, không thể khác được. Do vậy được gọi là Như Lai."

"Này các tỷ kheo, Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy. Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được gọi là Như Lai."

"Này các tỷ kheo, trong toàn thể thế giới, Thiên giới, Ma giới, cùng các quần chúng Sa môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc Chiến Thắng, không bị ai chiến bại, toàn trí toàn kiến, đại tự tại. Do vậy, được gọi Như Lai."

Như kinh trên đã trình bày, Như Lai là một vị đã hiểu rõ thế giới, như vậy là đã đạt đến chỗ tột cùng của thế giới, mới có thể hiểu biết về thế giới. Nhưng phải ở trong thế giới, mới có thể hiểu biết thế giới, phải ở trong sinh tử mới có thể vượt khỏi sinh tử, như đã được trình bày trong kinh Rohitassa số 45. Trong kinh này, thiên tử Rohitassa hỏi Đức Phật: "Tại chỗ nào Bạch Thế Tôn, không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ (đời này), không có sanh khởi (đời khác), chúng con có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới không?" Và Đức Phật đã trả lời dứt khoát là không thể được. Rohitassa tán thán câu trả lời của Đức Phật, khen rằng thật là vi diệu vì chính thiên tử Rohitassa, bước đi với tốc độ nhanh như tên bắn chớp nhoán, với bước chân từ biển Đông qua biển Tây, đi như vậy luôn 100 năm không có dừng nghỉ, cũng phải chết giữa đường, không có thể đạt được tận cùng thế giới. Nhưng rồi Đức Phật dạy, chúng ta không cần đi đâu xa, chính trên cái thân này của chúng ta, chúng ta có thể đạt đến chỗ tận cùng thế giới. "Này hiền giả, Ta tuyên rằng tại chỗ nào không bị sanh, không bị già, không bị chết, không có từ bỏ đời này, không có khởi đời khác thời không có thể đi đến để thấy, để biết, để đạt đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhưng này hiền giả, trong cái thân dài độ mấy tấc này (byàmamatta) với những tưởng, những tư duy của nó, Ta tuyên bố về thế giới tập khởi, về thế giới đoạn diệt, về con đường đưa đến thế giới đoạn diệt".

Và với bài kệ sau đây, Đức Phật tóm tắc lời dạy của Ngài:

"Với đi, không bao giờ

Đạt tận cùng thế giới

Nếu không, không đạt được

Chỗ tận cùng thế giới

Thời không có giải thoát

Ra ngoài khỏi khổ đau.

Do vậy, bậc có trí,

Hiểu biết rõ thế giới,

Đi tận cùng thế giới,

Với Phạm hạnh thành tựu,

Bậc đạt được an tịnh

Biết tận cùng thế giới;

Không mong cầu đời này,

Không mong cầu đời sau."

Vì vai trò quan trọng của cái thân của chúng ta, nên Đức Phật đã dạy phải trừ thân kiến (sakkàyaditthi) giới cấm thủ và nghi mới có thể chứng được quả Dự Lưu từ bỏ địa vị phàm phu, bước vào địa vị hiền thánh. Do vậy, đôi khi Đức Phật cũng rống tiếng rống của con sư tử về cái thân năm uẩn của chúng ta, một tiếng rống làm chư Thiên khiếp sợ vì tưởng rằng thân của chư Thiên là thường còn, như kinh Con sư tử số 33 đã ghi nhận:

"Cũng vậy này các tỷ kheo, Như Lai ...thuyết pháp: "Đây là thân năm uẩn (sakkàya), đây là thân năm uẩn tập khởi, đây là thân năm uẩn đoạn diệt; đây là con đường đưa đến thân năm uẩn đoạn diệt. Này các tỷ kheo, có những chư Thiên nào, tuổi thọ dài, có dung sắc, hưởng lạc nhiều, đã sống lâu trong các lâu đài to lớn. Chư Thiên này, sau khi nghe Như Lai thuyết pháp, phần lớn chúng trở thành sợ hãi, run sợ, khiếp đảm. Chúng nghĩ: "Chúng ta là vô thường, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường còn. Chúng ta là không thường hằng, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường hằng. Chúng ta không thường trú, này chư tôn giả, nhưng chúng ta nghĩ là chúng ta thường trú. Này chư tôn giả, chúng ta là vô thường, không thường hằng, không thường trú, bị thâu nhiếp trong một thân này."

Với Đức Phật tự mình đã giác ngộ, khi Ngài mới thành chánh giác, Ngài khởi lên một tư tưởng rất khiêm tốn: "Thật là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, đãnh lễ và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà-la-môn..." Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa đầy đủ, làm cho đầy đủ định uẩn chưa đầy đủ... Làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa đầy đủ... Làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa đầy đủ. Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác." Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác Ma và Phạm Thiên, giữa quần chúng Sa môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có một Sa môn hay Bà-la-môn nào khác, với giới ..., với định ..., với tuệ ... với giải thoát đầy đủ hơn Ta mà ta có thể cung kính đảnh lễ và sống y chỉ." Rồi này các tỷ kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Với Pháp này mà Ta đã chơn chánh giác ngộ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ pháp ấy." Như vậy Đức Phật với tâm tư khiêm tốn muốn tìm một Sa môn hay Bà-la-môn để nương tựa y chỉ, nhưng cuối cùng phải nương tựa y chỉ vào Chánh Pháp. Thái độ này của Đức Phật giải thích vì sao Đức Phật khuyên tôn giả Ananda chớ có sầu muộn sau khi Đức Phật nhập diệt, vì các đệ tử Phật luôn luôn có chánh pháp lãnh đạo, có chánh pháp làm chỗ y chỉ, có chánh pháp làm chỗ nương tựa. Đức Phật có thể xem là vị giáo chủ khuyên chúng ta không nên nương tựa, ỷ lại cá nhân, Ngài chỉ khuyên chúng ta nên y chỉ vào chánh pháp, nên nương tựa chánh pháp. Và như vậy chúng ta thật không lấy làm lạ khi Đức Phật được tôn xưng là bậc tối thượng trong thế giới các loài hữu tình như kinh các lòng tin số 34 đã xác định. Dầu cho loài hữu tình nào, này các tỷ kheo, không chân hay hai chân, bốn chân hay nhiều chân, có sắc hay không sắc, có tưởng hay không tưởng, hay phi tưởng phi phi tưởng, Thế Tôn bậc A-la-hán chánh đẳng giác được xem là tối thượng. Những ai đặt lòng tin vào Đức Phật, chúng đặt lòng tin vào tối thượng với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, chúng được quả Dị thục tối thượng.

Do Ngài chiếm một địa vị tối thượng trong thế giới các loài hữu tình, do sự chứng ngộ, giải thoát của Ngài là thiết thực, hoàn toàn viên mãn, hoàn toàn thanh tịnh, nên Ngài sống ở đời, đạt được bốn sự không sợ hãi, như kinh Vô sở úy số 8 đã trình bày. Ngài tuyên bố: "Có bốn không sợ hãi này của Như Lai, này các tỷ kheo, do thành tựu bốn không sợ hãi này, Như Lai tự nhận cho mình Địa ngưu vương, rống tiếng rống con sư tử trong các hội chúng và chuyển Pháp Luân".

Ngài thấy rằng, không một ai có thể chỉ trích Ngài là chưa giác ngộ một cách hoàn toàn, là chưa đoạn tận các lậu hoặc một cách hoàn toàn, là các pháp Ngài thuyết là chướng đạo pháp nhưng thật sự không có gì chướng ngại, và mục đích về pháp Ngài tuyên bố là không thiết thực đưa người thực hành đoạn tận được khổ đau. Trái lại, Ngài đã thực sự giác ngộ hoàn toàn, đã thực sự đoạn tận dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu; các chướng đạo pháp mà Ngài tuyên bố thật sự làm trở ngại cho người hành trì trên con đường tu đạo; mục đích Ngài thuyết giảng và các phương pháp hành trì do Ngài giới thiệu đã thực sự giúp cho hàng vạn, hàng triệu người được giải thoát giác ngộ. Do vậy, Ngài ung dung tự tại đi vào mọi hội chúng, không một chút sợ hãi rụt rè, vì không có một ai có thể chất vấn, cật nạn Ngài được. Ngài đã chứng được bốn không sợ hãi của những bậc thật sự giác ngộ.

Với vị trí vô thượng của Ngài, với sự giác ngộ tuyệt vời của Ngài, với bốn không sợ hãi của Ngài, cho nên Ngài đã thành tựu bốn pháp vi diệu chưa từng có, như đã được diễn tả trong kinh Vi diệu số 128.

"Này các tỷ kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu, chưa từng có này xuất hiện."

"Này các tỷ kheo, quần chúng ưa thích chấp giữ, thích thú chấp giữ, hoan hỷ chấp giữ. Khi pháp không chấp giữ được Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."

"Này các tỷ kheo, quần chúng ưa thích kiêu mạn, thích thú kiêu mạn, hoan hỷ kiêu mạn. Khi pháp không kiêu mạn được Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."

"Này các tỷ kheo, quần chúng ưa thích không an tịnh, thích thú không an tịnh, hoan hỷ không an tịnh. Khi pháp an tịnh được Như Lai thuyết giảng, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."

"Này các tỷ kheo, quần chúng đi đến vô minh, trở thành mù quáng, bị trói buộc che đậy. Khi Như Lai thuyết pháp nhiếp phục vô minh, chúng khéo nghe, lắng tai, an trú tâm với chánh trí..."

"Này các tỷ kheo, khi Như Lai, bậc A-la-hán chánh đẳng giác xuất hiện, có bốn pháp vi diệu chưa từng có này xuất hiện." Đây thật sự là ảnh hưởng vi diệu của chánh pháp. Chúng ta chưa nghe chánh pháp thì thôi, nhưng đã nghe được chánh pháp thời tâm tư chúng ta dần dần biến đổi, bản tánh ưa thích chấp giữ được nhẹ dần tánh chấp giữ, bản tánh kiêu mạn chúng ta vơi bớt kiêu căng ngạo mạn, bản tánh giao động của chúng ta trở thành an tịnh lắng dịu và bản tánh vô minh vô trí được trở thành sáng suốt, giác ngộ. Khả năng cảm hóa của chánh pháp thật sự là hy hữu vi diệu. Khả năng cảm hóa của Đức Phật thật sự là hy hữu vi diệu."

*

Nay chúng ta bước qua một lãnh vực khác, lãnh vực các đề tài Đức Phật đã thuyết giảng, một mặt chúng ta thấy rõ được sự sai khác như trời vực giữa lời dạy của Sa môn, Bà-la-môn ngoại đạo và lời dạy của Đức Phật. Một mặt chúng ta càng nhận chân một cách thấu triệt sâu sắc những pháp môn giải thoát giác ngộ, chính Đức Phật tự mình hành trì kinh nghiệm trên bản thân, những pháp môn ấy không những là siêu việt xuất chúng với tánh chất độc đáo của chúng, chính chúng đã mở rộng tầm mắt nhìn thấy của chúng ta và giới thiệu cho chúng ta những pháp môn thật sự giác ngộ và giải thoát.

Trong một câu chuyện giữa các du sĩ ngoại đạo với Đức Phật như được ghi chép trong kinh Các sự thật Bà-la-môn số 185, khi được nghe các du sĩ bàn luận về các sự thật Bà-la-môn, Đức Phật đã đóng góp ý kiến của Ngài về vấn đề này, và những sự thật Ngài đóng góp thật sự là những nguyên tắc, những nguyên lý để hiểu biết để thực hành, để sống trọn vẹn:

"Ở đây, này các du sĩ, Bà-la-môn nào nói như sau: "Không được làm hại các loài hữu tình", người Bà-la-môn nào nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến Bà-la-môn, không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng trí sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành lòng thương tưởng, lòng từ mẫn đối với các loài hữu tình.

"Lại nữa này các du sĩ, Bà-la-môn nói như sau: "Mọi dục là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại..." Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến "Ta là hạ liệt". Lại nữa do thắng tri sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành nhằm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các dục".

"Lại nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nào nói như sau: "Tất cả hữu là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại". Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến: "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến: "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến: "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng tri sự thật hàm chứa ở đấy, người ấy thực hiện nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với các hữu.

"Lại nữa, này các du sĩ, người Bà-la-môn nói như sau: "Ta không là bất cứ ai, bất cứ thuộc ai, bất cứ là gì. Trong ấy không có cái gì được gọi ta là của Ta, bất cứ ở đâu, bất cứ là gì? "Người Bà-la-môn nói như vậy là nói sự thật, không nói láo. Do vậy, vị ấy không nghĩ đến "Sa môn", không nghĩ đến "Bà-la-môn", không nghĩ đến: "Ta hơn các người khác", không nghĩ đến: "Ta bằng các người khác", không nghĩ đến "Ta là hạ liệt". Lại nữa, do thắng tri sự thật hàm chứa ở đây, người ấy thực hành con đường không có sự vật gì".

Trước hết bốn sự thật do Đức Phật tuyên bố này, cho chúng ta một cái nhìn thiết thực, chính xác về cuộc đời và dạy cho chúng ta những hành động phù hợp: "Chúng ta không được làm hại các loài hữu tình; chúng ta phải hiểu các dục, các hữu là vô thường; chúng ta nên loại trừ các sở hữu. Với những cái nhìn, với những hành động chính xác phù hợp với các sự thật ấy, chúng ta sẽ không còn tự cao tự đại, tự ty mặt cảm, không còn phân biệt giữa mình và người. Và nhờ có một nhận thức thiết thực về bốn sự thật này, chúng ta mới phát khởi lòng từ bi đối với các loài hữu tình, thực hành sự nhàm chán ly tham đối với các dục, các hữu, và thực hành con đường không có sự vật gì."

Cuộc đối thoại kế tiếp là giữa Bà-la-môn Vassakàre với Đức Phật về vấn đề Đại Tuệ (kinh Vassakàre số 35). Theo Vassakàre, một người thành tựu bốn pháp được xem là bậc Đại Tuệ, là bậc Đại Nhân. Tức là nghe nhiều, biết ý nghĩa những điều đã được nghe. Có chánh niệm, nhớ đến điều đã làm, đã nói từ lâu. Trong các công việc của gia chủ, có thiện xảo không thụ động. Thành tựu với sự quán sát về phương tiện vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức. Đầy đủ bốn đức tánh như vậy, Bà-la-môn Vassakàre xem vị ấy là bậc Đại Tuệ, là bậc Đại Nhân. Nhưng Đức Phật trình bày bốn pháp, tác thành bậc Đại Tuệ, bậc Đại Nhân rất là sai khác.

Theo Đức Phật, "Người nào hướng đến hạnh phúc cho nhiều người, hướng đến an lạc cho nhiều người. Với người này, nhiều người được an lập trên thánh lý, tức là hiền thiện pháp tánh, thiện pháp tánh. Với tâm tư nào vị ấy nghĩ cần phải tầm tư, vị ấy tầm tư tầm tư ấy. Với tư duy nào vị ấy nghĩ cần phải tư duy, vị ấy tư duy tư duy ấy. Như vậy vị ấy đạt được tâm tự tại trong các đường hướng tầm tư. Đối với bốn thiền thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú, vị ấy đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc, đạt được không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, với thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú, vô lượng giải thoát." Đức Phật không bài xích, không tùy hỷ quan điểm của Vassakàre, Ngài chỉ trình bày quan điểm của mình, nhưng sau khi Vassakàre gạn hỏi như muốn thách thức, Đức Phật đã trả lời cho Vassakàre rõ là bốn pháp tánh thành bậc Đại Tuệ này, chính Đức Phật đã thành tựu một cách viên mãn trọn vẹn. Thật vậy, Đức Phật là vị đã đem lại hạnh phúc an lạc cho rất nhiều chúng sanh, đã an trú các chúng sanh trên thiện pháp, đã giúp đỡ chúng sanh thực hành các điều lành về thân, về lời, về ý. Đức Phật là vị đã hoàn toàn tự tại trong đường hướng tầm tư, suy tư những gì cần phải suy tư, không suy tư những gì không cần phải suy tư, tự tại trong những suy tư, tư tưởng của mình; đã chứng được bốn thiền một cách ung dung tự tại và đã đoạn trừ các lậu hoặc, chứng được vô lậu tâm giải thoát tuệ giải thoát. Ngài nói đến bốn pháp tác thành bậc Đại Tuệ, những pháp chính Ngài đã thực hành trọn vẹn. Và để kết luận, Đức Phật đã nói lên bài kệ:

"Ai trong mọi chúng sanh

Hiểu rõ được giải thoát,

Khỏi cạm bẫy thần chết.

Vì hạnh phúc nhân thiên;

Tuyên bố về chánh lý,

Tuyên bố về chánh pháp.

Quần chúng thấy nghe vậy,

Liền hoan hỷ tịnh tín.

Thiện xảo, đạo phi đạo,

Việc nên làm đã làm,

Võ lậu bậc giác ngộ

Với thân này thân cuối,

Ngài được gọi tôn xưng

Bậc Đại Tuệ, Đại Nhân".

Tiếp đến là một cuộc đàm luận nữa giữa Bà-la-môn Jànussoni với Đức Phật, vị này đến Đức Phật và tuyên bố ngay rằng: "Thưa Tôn giả Gotama, con nói như sau, thấy như sau: "Không có một ai bản tánh bị chết mà không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết." (Kinh Không sợ hãi, số 184).

Đức Phật với kinh nghiệm của Ngài, tuyên bố rằng có hai hạng người, có hạng người bản tính bị chết, sợ hãi run sợ khi nghĩ đến cái chết, nhưng có người bản tính bị chết, nhưng không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến cái chết. Và bốn hạng người sau đây, khi chết đến cảm thấy sợ hãi hoảng sợ: "Những ai không ly tham đới với các dục, những ai không ly tham đối với cái thân không ly tham muốn, không ly tham ái, không ly khát ai, không ly nhiệt não, không ly tham ái. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy, suy nghĩ như sau: "Thực sự các dục khả ái sẽ từ bỏ Ta, hay Ta từ bỏ những dục khả ái... Thật sự thân khả ái, sẽ từ bỏ Ta, hay Ta từ bỏ thân khả ái. "Nó sầu muộn than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh." Như vậy, hai hạng người này, hạng người chưa ly tham đối với các dục...chưa ly tham đối với thân, hai hạng người này, bản tánh bị chết, sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết."

"Lại nữa hạng người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh nặng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp.

Tại sanh thú nào, các người không làm điều lành, không làm điều thiện, không che chở cho kẻ sợ hãi, làm điều ác, làm điều hung bạo, làm điều phạm pháp đi đến, sau khi chết, Ta đi đến sanh thú ấy. "Người ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn đây là người bản tánh bị chết sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết."

- "Lại nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người nghi ngờ, do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ bệnh nặng trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta có nghi ngờ do dự, không đi đến kết luận đối với diệu pháp. "Người ấy sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là bốn hạng người, bản tánh bị chết sợ hãi, rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết."

Trái lại bốn hạng người sau đây, tuy bản tánh bị chết, nhưng không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến cái chết:

"Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người ly tham đối với các dục...ly tham đới với thân, ly ham muốn, ly luyến ái, ly khát ái, ly nhiệt não, ly tham ái. Rồi một chứng trầm trọng khởi lên cho người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy suy nghĩ như sau: "Thật sự các dục khả ái sẽ từ bỏ Ta, hay "Ta sẽ từ bỏ các dục khả ái ... Thật sự thân khả ái sẽ từ bỏ Ta", hay "Ta sẽ từ bỏ thân khả ái này." Người ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. "Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến chết."

"Lại nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều lành, làm điều thiện, có che chở kẻ sợ hãi. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy, suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không làm ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp; làm điều lành, làm điều thiện, có che chở cho kẻ sợ hãi. Tại sanh thú nào, các người không làm các điều ác, không làm điều hung bạo, không làm điều phạm pháp, làm điều thiện, làm điều lành, có che chở cho kẻ sợ hãi đi đến. Sau khi Ta chết, Ta đi đến sanh thú ấy. Người ấy không sầu muộn, không than van, không khóc lóc, không đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết, không sợ hãi, không run sợ khi nghĩ đến chết."

 

"Lại nữa này Bà-la-môn, ở đây có hạng người không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp. Rồi một chứng bệnh trầm trọng khởi lên cho người ấy. Người ấy cảm thọ chứng bệnh trầm trọng ấy suy nghĩ như sau: "Thật sự Ta không có nghi ngờ, không có do dự, đi đến kết luận đối với diệu pháp! Người ấy không có sầu muộn, không có than van, không có khóc lóc, không có đập ngực, không rơi vào bất tỉnh. Này Bà-la-môn, đây là hạng người bản tánh bị chết không sợ hãi, không rơi vào run sợ khi nghĩ đến cái chết."

Có những vấn đề xem thật là tầm thường, nghĩa là nói lên những điều mình đã nghe, đã thấy, nhưng câu trả lời của Đức Phật bao giờ cũng diễn đạt trí tuệ sâu sắc của Ngài, rất khác với câu trả lời của Vassakàra (Kinh Điều đã được nghe số 183). Bà-la-môn Vassakàra thưa với Đức Phật: "Thưa Tôn giả Gotama con nói như sau, thấy như sau: "Khi người nào nói lên điều mình thấy: "Ta thấy như vậy", do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình nghe: "Tôi nghe như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình cảm giác; "Tôi cảm giác như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. Khi người nào nói lên điều mình thức tri: "Tôi thức tri như vậy." Do vậy người ấy không có lỗi gì. "Câu trả lời của Đức Phật rất là đặc biệt. Ngài tuyên bố, Ngài không nói rằng tất cả được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri là nên nói ra hay không nói ra. "Nhưng này Bà-la-môn, phàm nói lên điều thấy gì...điều nghe gì...điều cảm gì... điều thức tri gì, các pháp bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm, Ta nói rằng điều thấy như vậy...điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy... điều thức tri như vậy... điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy...điều thức tri như vậy không nên nói ra. Và này Bà-la-môn, phàm nói ra điều gì, thấy gì...điều nghe gì...điều cảm giác gì...điều thức tri gì...các pháp bất thiện tổn giảm, các pháp thiện tăng trưởng, Ta nói rằng điều thấy như vậy...điều nghe như vậy...điều cảm giác như vậy...điều thức tri như vậy...điều thức tri như vậy nên nói ra!"

Như vậy Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên nói lên những gì khiến thiện pháp tăng trưởng, khiến bất thiện pháp tổn giảm, và dứt khoát không nên nói lên những gì khiến thiện pháp tổn giảm, khiến bất thiện pháp tăng trưởng.

*

Trong thời Đức Phật tại thế, khi Ngài mới thành chánh đẳng chánh giác, Ngài bị một số Bà-la-môn trưởng lão chất vấn Ngài như sau: "Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi được nghe như sau: "Sa môn Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có lấy nghế mời ngồi các bậc trưởng thượng đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt đến cuối mức tuổi đời. Thưa Tôn giả Gotama, có phải sự tình là như vậy không? Nếu Tôn giả Gotama không có kính lễ, không có đứng dậy, không có lấy ghế mời ngồi các bậc Bà-la-môn già cả, trưởng lão , các bậc trưởng thượng, đã đi quá nửa cuộc đời, đã đạt cuối mức tuổi đời, sự tình như vậy, thưa Tôn giả Gotama là không được tốt đẹp." Câu trả lời của Đức Phật cho các trưởng lão Bà-la-môn nêu rõ quan điểm về trưởng lão và về thanh niên của Đức Phật. Ngài nói: "Này các tỷ kheo nếu trưởng lão là 80 tuổi hay 90 tuổi, hay 100 tuổi đời, và nếu vị ấy nói phi thời, nói phi chân, nói phi nghĩa, nói phi pháp, nói phi luật, nói những lời không đáng gìn giữ, lời nói không hợp thời, không hợp lý, không có giới hạn, không liên hệ đến mục đích, thời vị ấy chỉ được gọi là vị trưởng lão ngu si. Nếu là một vị tuổi trẻ, này các tỷ kheo, một thanh niên còn non trẻ, tóc đen nhánh, trong tuổi hiền thiện của đời, còn trong tuổi thanh xuân, và vị ấy nói đúng thời, nói lời chân thật, nói lời có nghĩa, nói lời đúng pháp, nói lời đúng luật, nói lời đáng được gìn giữ, nói lời hợp thời cơ, hợp lý, có giới hạn, liên hệ đến mục đích, thời vị ấy được gọi là trưởng lão hiền trí."

Rồi Đức Phật nói lên bốn pháp tác thành trưởng lão (xem Tăng Chi II, kinh số 22):

- "Ở đây này các tỷ kheo, vị tỷ kheo có giới, sống chế ngự với sự chế ngự các giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Là vị nghe nhiều, thọ trì điều đã được nghe, tích tụ điều đã nghe; những pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Các pháp như vậy, vị ấy nghe nhiều, thọ trì đọc tụng bằng lời, quán sát với ý, thể nhập với chánh kiến. Đối với bốn thiền, thuộc tăng thượng tâm, hiện tại lạc trú đạt được không khó khăn, đạt được không mệt nhọc, đạt được không phí sức. Do đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình với thắng trí chứng ngộ chứng đạt và an trụ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỷ kheo, bốn pháp này tác thành vị trưởng lão:

"Ai với tâm cống cao

Nói nhiều lời phù phiếm

Với tư duy không định

Như thú không ưa pháp,

Xa địa vị trưởng lão,

Ác kiến, thiếu kính trọng.

Và ai đủ giới hạnh,

Nghe nhiều, trí biện tài,

Sống chế ngự bậc trí,

Đối với tất cả pháp.

Vị ấy với trí tuệ,

Quán thấy chơn ý nghĩa.

Đạt cứu cánh các pháp,

Không hoang vu, biện tài.

Đoạn tận sanh và chết,

Viên mãn, hành Phạm hạnh,

Vị ấy Ta gọi tên,

Trưởng lão, không lậu hoặc

Do đoạn trừ lậu hoặc

Được gọi là Trưởng Lão."

*

Trong đời Đức Phật, Ngài cũng bị nhiều hiểu lầm và xuyên tạc. Chúng ta thấy trong kinh trước, Đức Phật đã bị xuyên tạc không có kính lễ các bậc trưởng thượng và Đức Phật đã giải thích quan điểm của mình đối với vấn đề trưởng lão và thanh niên. Trong bài kinh Bhaddiya số 193, Đức Phật lại bị xuyên tạc và bị huyễn thuật sư đã dùng huyễn thuật lôi cuốn đệ tử các ngoại đạo. Licchavi Bhaddiya đến yết kiến Đức Phật và hỏi: "Bạch Thế Tôn, những ai nói như sau: "Sa môn Gotama là huyễn thuật sư, biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo. Những người ấy Bạch Thế Tôn, có phải nói đúng ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật. Có phải chúng trả lời về pháp hợp với chánh pháp. Và ai là vị đồng pháp, theo một quan điểm, không có lý do để chỉ trích Bạch Thế Tôn, chúng con không muốn xuyên tạc Thế Tôn."

Đức Phật liền khuyên Licchavi Bhaddiya chớ có tin mười điều: "Này Bhaddiya, chớ có tin vì nghe báo cáo; chớ có tin vì nghe truyền thống; chớ có tin vì nghe tin đồn; chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt các dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất nơi uy quyền; chớ có tin vì vị Sa môn là bậc Đạo sư của mình."

Rồi Đức Phật khuyên: "Bhaddiya khi nào biết được các pháp này là bất thiện, là có tội, bị người có trí chỉ trích, nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến bất hạnh lâu dài, thời hãy từ bỏ các pháp ấy. Muốn biết các pháp ấy là bất thiện, cần nhận xét các pháp ấy có liên hệ đến tham, sân, si, hung bạo, thời các pháp ấy đem lại bất hạnh và cần phải từ bỏ. Rồi Đức Phật cũng dùng phương pháp tương tự, khuyên không nên dựa vào mười lòng tin như trên, cần phải tự mình biết các pháp ấy là thiện, là không có tội, được người trí tán thán, và nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh phúc an lạc thời hãy an trú và thực hiện các pháp ấy. Tiêu chuẩn để biết các pháp ấy là thiện pháp là liên hệ đến không tham, không sân, không si, không hung bạo, làm các thiện pháp như không sát sanh, không trộm cướp, không đi lại vợ người, không nói láo, khích lệ người khác cũng làm như vậy. "Rồi Đức Phật đi đến kết luận: "Này Bhaddiya, tất cả các bậc chân nhân tịch tịnh ở đời khích lệ đệ tử như sau: "Hãy đến này các đệ tử. Hãy nhiếp phục tham! Hãy sống nhiếp phục tham! Do sống nhiếp phục tham, ngươi sẽ không làm nghiệp do tham sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục sân! Hãy sống nhiếp phục sân! Do sống nhiếp phục sân, ngươi sẽ không làm nghiệp do sân sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục si! Hãy sống nhiếp phục si! Do sống nhiếp phục si, ngươi sẽ không làm nghiệp do si sanh, về thân, về lời, về ý! Hãy nhiếp phục hung bạo! Hãy sống nhiếp phục hung bạo! Do sống nhiếp phục hung bạo, ngươi sẽ không làm nghiệp do hung bạo sanh, về thân, về lời, về ý."

Khi nghe Đức Phật giảng đến đây, Licchavi Bhaddiya liền xin quy y ba Ngôi Báu để trở thành đệ tử Đức Phật. Nhưng Đức Phật hỏi, trong suốt bài thuyết pháp của Đức Phật, có bao giờ Đức Phật khuyên Licchavi Bhaddiya trở thành đệ tử của Đức Phật hay không và Đức Phật sẽ trở thành vị đạo sư cho Bhaddiya hay không? Bhaddiya trả lời là không bao giờ Đức Phật có nói như vậy. Bậc Đạo sư đến đây mới kết luận: "Như vậy, này Bhaddiya, những Sa môn, Bà-la-môn nào nói như sau, tuyên bố như sau: "Là một huyễn thuật sư, Sa môn Gotama biết được huyễn thuật lôi cuốn những đệ tử ngoại đạo! "Những vị ấy là không thiện, trống không, nói láo, xuyên tạc với điều không thật!"

Khi nghe Đức Phật kết luận như vậy, Bhaddiya nói lên lời tán thán là huyễn thuật dụ dỗ này của Sa môn Gotama thật là hiền thiện và mong rằng tất cả bà con huyết thống của mình và tất cả những người Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ Xá và Thủ Đà đều được huyễn thuật dụ dỗ này cám dỗ, vì những sự cám dỗ này, mọi người mọi loài sẽ đoạn tận các pháp bất thiện, thành tựu các thiện pháp và như vậy được hạnh phúc an lạc trong một thời gian dài!

*

Thực sự mà nói, Đức Phật không có cám dỗ ai, Ngài không có dụng tâm thâu phục đệ tử của ai. Ngài cũng không khuyên ai nhắm mắt tin Ngài. Ngài chỉ trình bày những tiêu chuẩn cho mọi người tự mình tìm hiểu thế nào là bất thiện để đoạn tận, thế nào là thiện pháp mới đem lại hạnh phúc an lạc cho mọi người.

Trong kinh Xa xăm số 47, Đức Phật nêu rõ khoảng cách biệt xa vời giữa pháp của hạng người bất thiện và pháp của hạng người thiện:

"Này các tỷ kheo, có bốn sự này, rất xa, rất xa với nhau. Trời và đất này các tỷ kheo là rất xa, rất xa với nhau ...Bờ biển bên này, này các tỷ kheo, với bờ biển bên kia là rất xa, rất xa với nhau. Từ chỗ mặt trời mọc lên, này các tỷ kheo, đến chỗ mặt trời lặng xuống, là rất xa với nhau... Pháp của hạng người bất thiện, này các tỷ kheo, với các pháp của hạng người thiện, là rất xa, rất xa với nhau..." và Đức Phật kết thúc bài kệ:

"Rất xa là bầu trời,

Cũng rất xa quả đất,

Người ta nói rất xa

Là bờ biển bên kia

Từ chỗ mặt trời mọc,

Chói sáng tỏa ánh sáng,

Đến chỗ mặt trời lặn,

Rằng xa thật là xa.

Người ta nói xa hơn,

Là pháp của bậc Thiện,

Với pháp kẻ bất thiện

Thật xa, xa hơn nhiều.

Hòa hợp với bậc Thiện,

Thường hằng không hoại diệt

Khi nào còn đứng vững

Vẫn như vậy kiên trì.

Còn hòa hợp bất thiện,

Rất mau bị phá hoại,

Do vậy pháp bất Thiện,

Xa vời pháp kẻ ác."

Trong kinh Upaka số 188, Đức Phật tuyên bố rất rõ ràng là các bậc Như Lai, với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp, chỉ với mục đích nêu rõ các pháp bất thiện để đoạn tận, và các pháp thiện để tu tập:

- "Này Upaka, đây là bất thiện. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây là bất thiện. Này Upaka, bất thiện này cần phải đoạn tận. Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây là pháp bất thiện này cần phải đoạn tận." "Đây là thiện", Này Upaka, ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng thuyết pháp của Như Lai: "Đây là pháp thiện! Thiện pháp này cần phải tu tập, này Upaka, Ta nêu rõ như vậy với vô lượng câu, với vô lượng chữ, với vô lượng thuyết pháp của Như lai. Đây là thiện này cần phải tu tập."

Đã nói đến thiện và bất thiện, Đức Phật trình bày tiếp về nghiệp thiện bất thiện, và trong kinh các nghiệp với chi tiết, số 232, Đức Phật phân tích có bốn loại nghiệp: Nghiệp đen quả đen, nghiệp trắng quả trắng, nghiệp đen trắng quả đen trắng, nghiệp không đen trắng quả không đen trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt.

"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp đen quả đen? Ở đây này các tỷ kheo, có người làm thân hành có tổn hại, làm khẩu hành có tổn hại, làm ý hành có tổn hại. Người ấy, do làm thân hành có tổn hại...do làm khẩu hành... do làm ý hành có tổn hại, sanh ở thế giới có tổn hại. Do người ấy sanh ra ở thế giới có tổn hại, các cảm xúc có tổn hại được cảm xúc. Người ấy, được cảm xúc với những cảm xúc có tổn hại, nên cảm xúc những cảm thọ có tổn hại, thuần nhất khổ, như những chúng sanh trong địa ngục. Này các tỷ kheo, đây là nghiệp đen quả đen."

"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp trắng quả trắng? Ở đây, này các tỷ kheo, có người làm thân hành không có tổn hại, làm khẩu hành không có tổn hại, làm ý hành không có tổn hại. Người ấy, do làm thân hành không có tổn hại, do làm khẩu hành không có tổn hại, do làm ý hành không có tổn hại, sanh ra ở thế giới không có tổn hại. Do người ấy sanh ra ở thế giới không có tổn hại, các cảm xúc không có tổn hại được cảm xúc. Người ấy, được cảm xúc với những cảm xúc không có tổn hại, nên cảm thọ những cảm thọ không có tổn hại, thuần nhất lạc, như chư Thiên ở Biến tịnh thiên. Này các tỷ kheo, đây là nghiệp trắng quả trắng."

"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp đen trắng quả đen trắng? Ở đây, này các tỷ kheo, có người làm thân hành có tổn hại và không tổn hại; người ấy làm khẩu hành..., làm ý hành có tổn hại và không tổn hại. Người ấy do làm thân hành..., do làm khẩu hành..., do làm ý hành có tổn hại và không tổn hại nên sanh vào thế giới có tổn hại và không tổn hại, các cảm xúc có tổn hại và không tổn hại được cảm xúc. Người ấy được cảm xúc với những cảm xúc có tổn hại và không tổn hại, nên cảm thọ những cảm thọ có tổn hại và không tổn hại xen lẩn, pha trộn lạc và khổ. Ví như một số người và chư Thiên, một số chúng sanh ở đọa xứ. Này các tỷ kheo, đây gọi là nghiệp đen trắng và quả đen trắng."

"Và này các tỷ kheo, thế nào là nghiệp không đen trắng quả không đen trắng?

Tại đây, này các tỷ kheo, phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận nghiệp đen quả đen này; phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận nghiệp trắng quả trắng này; phàm có tư tâm sở nào để đoạn tận nghiệp đen trắng quả đen trắng này, này các tỷ kheo, đây được gọi là nghiệp không đen trắng quả không đen trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt này. Này các tỷ kheo, có bốn nghiệp này đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng."

*

Với Đức Phật là vị đã giác ngộ, biết tâm tư tánh tình của các loài hữu tình, của loài người nên Ngài thường hay phân loại các chúng sanh, theo những xu hướng đặc biệt. Như kinh Thuận dòng số 5, Đức Phật đã phân loại có bốn hạng người tùy theo thuận hướng hay nghịch hướng trên con đường đưa đến giải thoát. "Có bốn hạng người này, này các tỷ kheo, hiện hữu có mặt ở đời... Hạng người đi thuận dòng, hạng người đi ngược dòng, hạng người tự đứng lại, và vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền.

Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người đi thuận dòng? Ở đây, này các tỷ kheo, có người thọ hưởng các dục và làm ác nghiệp. Này các tỷ kheo, đây là hạng người đi thuận dòng. Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người đi ngược dòng? Ở đây, này các tỷ kheo, có hạng người không thọ hưởng các dục, không làm ác nghiệp. Với khổ với ưu, nước mắt đầy mặt, khóc than, sống phạm hạnh viên mãn thanh tịnh. Này các tỷ kheo, đây là hạng người đi ngược dòng. Và này các tỷ kheo, thế nào là hạng người tự đứng lại? Ở đây, này các tỷ kheo, do diệt tận năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đây nhập Niết Bàn, không còn trở lui đời ấy nữa. Này các tỷ kheo, đây là hạng người tự đứng lại. Và này các tỷ kheo, thế nào là vị Bà-la-môn đã vượt qua đến bờ bên kia đứng trên đất liền? Ở đây, này các tỷ kheo, có hạng người do hoại diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này các tỷ kheo, đây gọi là vị Bà-la-môn, đã vượt qua đến bờ bên kia, đứng trên đất liền. Bốn hạng người này, này các tỷ kheo, hiện hữu có mặt ở đời."

"Những ai sống ở đời

Không chế ngự các dục

Không từ bờ ly tham,

Thọ hưởng các dục vọng

Chúng đi đến sanh già,

Đến rồi lại đến nữa.

Bị khát ái trói buộc

Chúng đi thuận dòng đời.

"Do vậy, bậc có trí,

Ở đời, trú chánh niệm,

Không thọ hưởng các dục,

Không hành trì điều ác

Dầu chịu sự khổ đau,

Từ bỏ các dục vọng,

Chúng được gọi hạng người

Đi ngược lại dòng đời.

"Nhưng ai quyết đoạn tận,

Năm phiền não kiết sử,

Bậc hữu học viên mãn,

Không có bị thối thất,

Đạt được tâm điều phục,

Các căn được định tỉnh.

Vị ấy được gọi là

Người đã tự đứng lại.

"Đối với pháp thắng liệt,

Vị ấy được giác tri

Đã được quét, quạt sạch,

Các pháp được chấm dứt

Vị ấy bậc trí giả,

Phạm hạnh được thành tựu,

Được tên gọi danh xưng

Bậc đã đi đến nơi

Chỗ tận cùng thế giới

Bậc đã đến bờ kia!"

Trong kinh Gậy Thúc Ngựa, số 113, Đức Phật đề cập đến bốn hạng người hiền thiện thuần thục, có những phản ứng đối với những đau khổ ở đời, và tùy theo mức độ mạnh yếu, nặng nhẹ khác nhau, có những giao động kích thích, tinh tấn, thắng trí được sự thật.

Trước hết, Đức Phật giới thiệu có bốn loại người đối với Gậy thúc ngựa. Có con vừa thấy bóng cậy gậy thúc ngựa đưa lên, liền biết ngay người cưỡi ngựa muốn sai bảo con ngựa phải làm gì, liền đáp ứng ngay ý muốn của người cưỡi ngựa. Có con phải đợi khi cây gậy thúc ngựa đâm vào da, có con phải đợi khi đâm vào thịt và có con phải đợi khi cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới đáp ứng ý muốn của người cưỡi ngựa. Cũng vậy, ở đời có bốn hạng người thiện, hạng thứ nhất vừa nghe tại một làng hay thị trấn kia có người đàn bà hay người đàn ông bị khổ đau hay bị mạng chung, liền bị giao động kích thích, như lý tinh cần. Và nhờ tinh cần, vị ấy với trí tuệ chứng ngộ được tối thắng sự thật. Hạng thứ hai không có phản ứng tốt đẹp khi chỉ nghe có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay mệnh chung, phải chợ khi tự mình chứng kiến mới có phản ứng tu hành tinh tấn. Hạng thứ ba không có phản ứng khi nghe hay tự mình thấy, chỉ có phản ứng khi có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay mệnh chung. Còn hạng thứ tư không có phản ứng khi nghe tại một làng hay thị trấn kia có người đàn bà hay người đàn ông bị đau khổ hay mệnh chung, không có phản ứng khi tự mình thấy một người đàn bà hay người đàn ông khổ đau hay bị mệnh chung, không có phản ứng khi có người bà con hay người đồng một huyết thống khổ đau hay bị mệnh chung. Hạng người thứ tư này, chỉ khi tự mình cảm xúc những cảm thọ về thân khổ đau, nhói đau, chói đau, mãnh liệt, kịch liệt, không khả hỷ, không khả ý, đoạt mạng sống, vị ấy mới bị giao động kích thích. Bị kích thích, vị ấy như lý tinh cần. Do tinh cần, với thân vị ấy chứng ngộ được sự thật tối thắng. Với trí tuệ, vị ấy sau khi thể nhập thấy được sự thật ấy. Ví như con ngựa hiền thiện thuần thục ấy, khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương mới bị giao động kích thích, và mới đáp ứng ý muốn của người cưỡi ngựa.

*

Thường thường chúng ta xem Đức Phật là bậc Đạo sư chỉ dạy những phương pháp tu hành siêu thế cho các vị xuất gia đã chọn lựa con đường thoát siêu trần. Thật sự mà nói, một số lớn kinh điển ghi nhận những lời dạy siêu trần thoát tục ấy. Nhưng như chúng ta đã thấy trong kinh Thế giới số 23 ghi rõ Đức Phật là vị đã hiểu biết thế giới nhưng không bị đời uế nhiễm. Vì Ngài đã hiểu biết thế giới, đã hiểu rõ tâm tư của chúng sanh, nên với sự giác ngộ, với trí tuệ sáng suốt của Ngài, Đức Phật đã chỉ dạy rất nhiều kinh điển, nói về bổn phận của người gia chủ trong gia đình. Trong Tăng Chi Bộ kinh Tập II quyển A có rất nhiều kinh điển đề cập đến vấn đề này, nhưng vì bài giảng quá dài và thời gian có hạn chúng tôi chỉ xin trích một kinh mà thôi, tức là kinh Bốn nghiệp công đức số 61.

Đức Phật nói với Anàthapindika (Cấp Cô Độc) có bốn pháp khả lạc, khả hỷ, khó được ở đời. Một là được tài sản đúng pháp, hai là được tiếng tốt đồn về mình cùng với bà con, ba là được sống lâu, thọ mạng được kéo dài và thứ tư là sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cỏi trời. Đây là bốn nguyện vọng thông thường của con người ở đời. Rồi Đức Phật dạy cho bốn phương pháp để đạt được bốn pháp khả lạc, khả hỷ trên, tức là đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Đầy đủ lòng tin là tin ở sự giác ngộ của Như Lai. Đầy đủ giới nghĩa là sống không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói láo, không uống rượu. Đầy đủ bố thí là sống ở gia đình, nhưng không bị gian tham chi phối, sẳn sàng bố thí sẳn sàng để được yêu cầu, vui thích san sẽ vật bố thí! Đầy đủ trí tuệ nghĩa là biết được tham ái sân hận, hôn trầm thụy miên, nghi hoặc là uế nhiễm của tâm, nên từ bỏ năm uế nhiễm ấy, như vậy được gọi là trí tuệ, có trí tuệ rộng lớn.

Rồi Đức Phật hướng dẫn người gia chủ tác thành bốn hành động, với tài sản thu hoạch được, do nổ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp. Với tài sản ấy người gia chủ chân chánh đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, cho các người phục vụ, cho người làm công, an lạc cho các bạn bè thân hữu. Như vậy là trường hợp thứ nhất. Người gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng pháp xứ.

Lại nữa, với tài sản ấy người gia chủ làm cho mình được an toàn chống lại những tai họa từ lửa đến, từ nước đến, từ vua đến, từ ăn trộm đến, từ các thừa tự thù nghịch đến. Như vậy là trường hợp thứ hai, người gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

Lại nữa, với tài sản ấy người gia chủ tổ chức năm loại hiến cúng, hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho các vong linh quá khứ, hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Đây là trường hợp thứ ba. Người gia chủ đạt được sự hưởng thọ đúng phương xứ.

Lại nữa, với tài sản ấy người gia chủ đối với những vị Sa môn, Bà-la-môn sống từ bỏ kiêu mạn phóng dật, an trú trên nhẫn nhục, nhu hòa nhiếp phục tự mình, an lạc tự mình, làm lắng dịu tự mình, người gia chủ tổ chức sự cúng dường tối thượng thuộc về cỏi trời, đem đến quả lạc Dị Thục, đem đến Thiên giới. Đây là trường hợp thứ tư, người gia chủ đạt đến sự hưởng thọ tối thượng. Rồi Đức Phật kết luận: "Này gia chủ, nếu tài sản của ai, được tiêu dùng không đúng với bốn hành động này, những tài sản ấy được gọi là tài sản đi đến không lợi ích, đi đến không thành đạt, đạt được sự hưởng thọ không đúng phương xứ. Nếu những tài sản của ai, này gia chủ, được tiêu dùng với bốn hành động này, những tài sản ấy được gọi là những tài sản đi đến lợi ích, đi đến thành đạt, đạt được sự hưởng thụ đúng phương xứ. Rồi Đức Phật nói lên bài kệ:

"Tài sản ta thọ hưởng

Gia nhân được nuôi dưỡng

Chính nhờ các tài sản,

Do Ta tránh tai họa

Ta cúng dường tối thượng,

Làm năm loại hiến vật,

Hộ trì bậc trì giới,

Bậc tự điều, Phạm hạnh.

Mục đích gì bậc trí,

Trú nhà, cần tài sản,

Mục đích ấy Ta đạt

Được làm không hối hận,

Người nào nhớ nghĩ vậy,

An trú trên thánh pháp,

Đời này được tán thán,

Đời sau được hoan hỷ,

Trên cảnh giới chư Thiên."

Trong một kinh khác, kinh Sống chung số 53, Đức Phật dạy cho các người gia chủ có bốn loại sống chung: "Đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ, đê tiện nam sống chung với thiên nữ, thiên nam sống chung với đê tiện nữ, và thiên nam sống chung với thiên nữ.

Và Đức Phật định nghĩa cho chúng ta hiểu rõ thế nào là đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. "Ở đây, này các gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong dục vọng, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối.

 

Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong dục vọng, nói láo, đắm say rượu men, rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối.

"Và này các gia chủ, thế nào là đê tiện nam sống chung với thiên nữ?"

"Ở đây này gia chủ, người chồng sát sanh...mắng nhiếc chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu với tâm không bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chủi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các gia chủ, là đê tiện nam sống chung với thiên nữ."

"Và này các gia chủ, thế nào là thiên nam sống chung với một đê tiện nữ?"

"Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh...không có nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn. Nhưng người vợ là người sát sanh, lấy của không cho...nhiếc mắng chửa rủa Sa môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các gia chủ, là thiên nam sống chung với đê tiện nữ."

"Và này các gia chủ, thế nào là thiên nam sống chung với thiên nữ?"

"Ở đây, này các gia chủ, người chồng từ bỏ sát sanh...không nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn và người vợ cũng là người không sát sanh...không nhiếc mắng chửi rủa các Sa môn, Bà-la-môn."

"Này các gia chủ, có bốn loại chung sống này."

* * *

Kính thưa quý vị,

Vì thời giờ bị hạn chế, chúng tôi chỉ có thể trích dẫn một số Kinh trong Tương Chi Bộ Kinh tập II quyển A để giới thiệu phần nào nội dung của bộ Kinh này. Như chúng tôi đã thưa trước, tập II quyển A này chỉ đề cập đến bốn pháp mà thôi, nhưng nội dung thật quá phong phú, quá dồi dào, khiến chúng tôi rất khó lựa chọn cho được đầy đủ. Số kinh được đề cập là 27, nhưng Kinh nào cũng phản chiếu trí tuệ tuyệt vời của một bậc giác ngộ, kinh nào cũng để lại ấn tượng của Bậc Toàn Năng Toàn Trí, đã thật sự Chánh đẳng Chánh giác thế giới, thế giới tập khởi, thế giới đoạn diệt và con đường đưa đến thế giới đoạn diệt. Một điều kỳ diệu nữa trong lời dạy của Đức Phật là đối tượng thuyết pháp của Ngài không có xa lạ gì, chính là cái thân dài mấy trăm tầm này, cái thân gọi là năm uẩn, không phải cái thân thuộc 2525 năm về trước, mà chính là cái thân hiện tại của chúng ta, với sắc tướng như thế này, với cảm thụ như thế này, với tưởng tượng như thế này, với hành như thế này, với các thức như thế này. Chính trên cái thân có mấy tầm này, có tư tâm sở làm chủ yếu (cetanà). Với tư tâm sở, thân làm điều ác, miệng nói điều ác, ý nghĩ ác, thời cảnh giới địa ngục, súc sanh hiện ra. Nếu với tư tâm sở, thân tâm điều lành miệng nói lời lành, ý suy nghĩ lành, thời thế giới chư Thiên hiện ra ngay trong hiện tại. Với tư tâm sở ấy, nếu chúng ta sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, uống rượu men rượu nấu, chúng ta trở thành đê tiện nam, đê tiện nữ. Trái lại, chúng ta giữ trọn năm giới cấm, chúng ta trở thanh thiên nam thiên nữ. Cũng chính với cái thân mấy tầm này, chúng ta sống lành mạnh, chí thiện, hành trì bốn thiền, hiện tại lạc trú, hướng đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thời chính cái thân này của chúng ta tỏa rộng ra giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Lời dạy của Đức Phật chỉ cho chúng ta rõ đâu là con đường ác cần phải từ bỏ, đâu là con đường thiện cần phải thực hành, đâu là giới định tuệ cần phải tu tập để hướng tiến trên con đường đạo. Với sự giải thoát và giác ngộ của Ngài, những lời dạy của Ngài bao giờ cũng thấm nhuần giải thoát và giác ngộ, cũng là những sức mạnh hướng dẫn đến giác ngộ giải thoát.

Viện Phật Học Vạn Hạnh chúng tôi với tâm niệm đề cao và phổ biến chánh pháp, luôn luôn cố gắng để phiên dịch Kinh Tạng Pàli, xuất bản và phát hành dịch tạng này trong các ngày lễ lớn, đặc biệt là ngày Phật Đản. Những Kinh tạng này được sưu tầm và phổ biến trước khi Đạo Phật chia thành Nam Tông và Bắc Tông, Đại Thừa và Tiểu Thừa, chứa đựng những lời dạy thực sự nguyên thủy, không rơi vào những chia ly của các học phái, những phát triển của Luận Tạng.

Chúng tôi có thể nói sự chia rẽ thành các học phái khác biệt như Thượng Tọa Bộ, Đại Chúng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ v.v... Nam Tông, Bắc Tông v.v... bắt nguồn từ văn học Jàtaka (Bổn Sanh), văn học Luật Tạng (Vinaya) và văn học Luận Tạng (Abhidhamma). Do vậy Kinh Tạng (Pàli Suttanta) nay đã được thế giới học Phật xem là những giáo lý căn bản chung cho cả Đại Thừa và Tiểu Thừa. Phiên dịch KinhTạng Pàli và phổ biến rộng rãi Kinh Tạng này, vừa là sự đóng góp của chúng tôi để xây dựng một Đại Tạng Kinh Việt nam, vừa là một cử chỉ cúng dường của chúng tôi dâng lên Chánh Pháp nhân ngày Đại Lễ Phật Đản.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT


Các tin đã đăng: