Như tôi là một phàm tăng, sống trong thời mạt pháp, lại thêm phước mỏng
nghiệp dầy. Nhưng trên đường tu với tâm cố gắng mãnh liệt, tôi vẫn tin
được mình có con người chân thật, lòng tin của tôi kiên cố không có
chút nghi ngờ. Tôi không nói vấn đề tu chứng chi cả, chỉ nói lòng tin
vững chắc, đó là: nơi tôi có con người chân thật.
Nhiều Phật tử đi chùa quy y đã lâu, biết tụng kinh niệm Phật, thế mà
đối với lý nhân quả chưa đủ lòng tin. Nếu chưa đủ lòng tin nhân quả thì
giáo lý Phật coi như chưa hiểu gì cả, vì lý nhân quả là nền tảng của
Phật pháp. Tin lý nhân quả là điều thiết yếu nhưng không phải tin
suông, tin mù quáng mà là một sự kiện thực tế, cụ thể ngay trong cuộc
sống, rất sáng tỏ, không mơ hồ huyền hoặc.
Nghiệp là thói quen huân tập tạo thành sức mạnh chi phối tất cả mọi
sinh hoạt trong cuộc sống của con người từ khi mở mắt chào đời cho đến
khi nhắm mắt và những đời kế tiếp. Nếu người Phật tử tu mà không hiểu
rõ về nghiệp thì khó mà ứng dụng tu hành để tới chỗ an lạc. Chữ nghiệp
trong nhà Phật không có nghĩa một chiều, hễ nói nghiệp thì phải là điều
xấu điều ác. Kỳ thật, nghiệp cũng có xấu và cũng có tốt, nghiệp cũng có
nghiệp chung và nghiệp riêng. Nghiệp riêng thì gọi là biệt nghiệp và
nghiệp chung thì gọi là đồng nghiệp.
Tôi có may mắn được nghe cuộn băng của Hòa Thượng Thích Thanh Từ giảng cho các người già bịnh. Nhận thấy bài pháp rất thực tế và hữu ích cho tôi, tôi nghĩ nó có thể hữu ích cho nhiều người khác không có may được nghe. Do đó, tôi chép lại. Vì đây là văn nói, nên lời văn không bóng bẩy, văn chương. Kính mong độc giả đạt ý, quên lời. Trong khi chép lại tôi cố gắng giữ nguyên lời Hòa Thượng nói. Tuy nhiên tôi cũng có bỏ bớt vài điệp ngữ để dễ đọc. Có vài chữ tôi không nghe rõ, tôi để dấu hỏi (?) để độc giả hiểu là có thể tôi đã chép lại chữ đó không đúng. Tôi cám ơn bác Lê Huy Nhâm và anh Dương Quí Thưởng đã đọc và sửa lỗi dùm cho tôi.
Trước khi giác ngộ, Thế Tôn nhận thấy con đường xuất ly là an tịnh,
nhưng lại không cảm thấy phấn khởi. Khi Thế Tôn suy nghĩ đến cùng về sự
nguy hiểm của các dục thì sự hứng khởi của tâm xuất ly khởi sinh, và
tâm của Thế Tôn thấy "Đây là an tịnh". Sau đó Thế Tôn an trú Sơ thiền.
Trong khi trú Sơ thiền thì các tưởng đi đôi với dục vẫn có mặt, bấy giờ
các tưởng này trở thành bệnh hoạn, nó cũng gây ra đau khổ.
Đại Đức Acharn PLIEN PANYAPATIPO ra đời vào ngày 16 tháng 11, năm 1933, trong gia đình Wongsachandra, quận Sawang-Dan-Din, tỉnh Sakon Nakorn, miền Đông Bắc xứ Thái. Lúc còn thơ ấu Ngài sống với ông bà, cho đến năm lên 11 tuổi thì trở về phụ giúp cha mẹ buôn bán tiệm trong làng.
Tu thiền là thực hiện theo nguồn gốc của đạo Phật. Vì xưa kia, Đức Phật tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm dưới cội bồ đề mới được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là Tăng Ni, Phật tử học giáo lý của Phật thì phải đi theo con đường mà Phật đã đi, không đi con đường nào khác, dù đường ấy người thuyết giảng nói linh thiêng mầu nhiệm, chúng ta cũng không theo. Chúng ta cần phải giảng trạch pháp thiền nào không phải của Phật dạy và pháp thiền nào của Phật dạy, để có cái nhìn chính xác, để tu và đạt được kết quả tốt đúng với giáo lý mà mình đã tôn thờ.
Phương pháp thứ nhất là dùng hơi thở theo dõi hơi thở, không
nghĩ gì khác. Phương pháp theo dõi hơi thở ra vào được đức Phật Thích
Ca khen ngợi và trực tiếp truyền đạt cho học trò. Trong tập V kinh
Tương Ưng, có cả một chương dài, ghi lời Phật nói về pháp môn đặc sắc
này (kinh Tương Ưng Bộ, chương 10, từ trang 463-98, bản dịch: Thích
Minh Châu). Hơi thở là biểu hiện cụ thể nhất của sự sống, khi thở mà
theo dõi hơi thở ra vào với tâm an tịnh, thì tác dụng đối với thân và
tâm thật không thể lường.
Ðã đem tâm này niệm Phật, phàm tất cả việc
tạp thiện, tạp ác đều không nên nhớ,
tức hàng ngày chỉ nên làm mọi việc với ý
niệm vạn bất đắc dĩ, xong rồi thì
xả, đừng để day dích, sẽ chướng
ngại tâm niệm của chúng ta....
Thiền định quán niệm hơi thở là một phương pháp căn bản và thích hợp với các đối tượng mới tu thiền trong các nền văn hoá khác nhau. Phương pháp này được Đức Phật thuyết giảng trong kinh tạng Nikàya. Sau đây là những hướng dẫn của HT. Tiến sĩ Thích Thiện Châu, người đã mang bức thông điệp này truyền vá trong nhiều tầng lớp Phậttử, đặc biệt là giới trẻ sinh viên ở các nước Châu Á trích từ baì viết "Thiền định với cuộc sống hôm nay" tại Hội thảo "Phật giáo và thời đại" ở Paris, Pháp, tháng 9/1995.
Các tin đã đăng: