Sách 3D
Chết An Bình Tái Sinh Hạnh Phúc
Tulku Thondup
Đã cập nhật: 0 phút
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Những Kinh Nghiệm Sau Khi Chết Của Các Delog Tây Tạng

Vì phần lớn tài liệu của delog đều đề cập đến bardo. Tôi đã dành toàn bộ chương này để so sánh về những chuyện Mục tiêu của chương này là minh họa nghiệp quả*kể.[1] không thể tránh mà mọi người phải đối mặt. Tôi hy vọng nó sẽ gây cảm hứng để người ta cư xử đúng cách và cải thiện tương lai họ.

Người ta thường hỏi tại sao những delog chỉ nhắc đến những bài nguyện, thiền định, Bổn Tôn và những vị thầy của đạo Phật. Trong một ý nghĩa, tôi nghĩ rằng không nên quy cho chủ đề Đạo Phật. Theo ý kiến của tôi, tư duy về cảm nhận của an bình và hạnh phúc, và những biểu lộ của nó trong lời nói và hành động đều trở thành suối nguồn của ích lợi và giải thoát, dù chúng được diễn tả qua Đạo Phật hoặc bất cứ hệ thống lòng tin nào. Bất kể ai đã đạt được trí tuệ của bản tánh tối thượng, an bình và hoan hỷ đều được trang bị năng lực giải thoát người khác, dù họ trong thân tướng của những Bổn Tôn Đạo Phật hay không. Tuy nhiên, những delog Tây Tạng ngẫu nhiên chứng kiến năng lực của những Bổn Tôn và giáo lý Đạo Phật vì chính họ là những người Phật tử, thói quen tinh thần và nghiệp liên quan của họ được kết nối với với những Bổn Tôn và giáo lý của Đạo Phật. Như đã thảo luận trước đây, Đạo Phật tin rằng mọi hình tướng trước mắt và mọi kinh nghiệm mà chúng ta đi qua chỉ là sự phản ánh của thói quen tinh thần. Do vậy, bất cứ hệ thống niềm tin nào chúng ta đi theo nếu có trí tuệ của an bình và hoan hỷ tối thượng, thì sẽ là suối nguồn thật sự lợi ích trong cuộc sống và trong lúc chết. Chúng ta sẽ thấy và cảm nhận nó như suối nguồn giải thoát. Danh hiệu và hình dáng không thực sự là vấn đề, vì chúng chỉ là những phương tiện thiện xảo, hay một phương sách đạt tới mục đích. Nó là tính chất của những mô tả này.

Hồi tưởng lại trong khi đọc những chuyện kể này làm chứng kiến những kinh nghiệm về hình ảnh, âm thanh, và những hoạt động của bardo một cách khác nhau, vì những hình ảnh và âm thanh đó là ảo giác hay phản ánh tinh thần của riêng họ. Chẳng hạn, một người có thể thấy vị Pháp Vương trong thân tướng phẫn nộ, trong khi người khác thấy Ngài trong thân tướng hiền minh. Một số có thể thấy Vị Mặt-Khỉ đang ghi chép, trong lúc người khác thấy Ngài đang đọc trong gương những hành động của một người được phản chiếu. Mặc dù có nhiều khác biệt cá nhân, điều đáng chú ý là vẫn có nhiều điểm tương đồng trong những mô tả này.
HÃY ĐỂ BÀ NHỚ LẠI MỌI ĐIỀU BÀ THẤY:

KINH NGHIỆM CỦA LINGZA CHOKYI

Mỗi mô tả của delog đều có một loại trí tuệ và đặc tính khác nhau. Chuyện kể của Lingza Chokyi có thể gần gũi với những kinh nghiệm mà phần lớn người thường có thể có trong cái chết và sau khi chết của họ.

Chokyi thấy chính bà nhìn vào giường mình; ở đó bà thấy xác chết của một con rắn lớn mặc quần áo của bà, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Con rắn đang mục rữa là thân bà, nhưng bà không thể nhận ra. Thông thường người chết không thấy xác họ theo đúng hình tướng – ngay cả nếu họ hoàn toàn thấy nó.

Khi con của Chokyi bắt đầu khóc, ôm và hôn con rắn, toàn bộ nhận thức của Chokyi đột ngột chuyển biến. Bà bắt đầu nghe những âm thanh rền vang như sấm nổ cùng lúc. Bà thấy một cơn mưa đá bằng máu và những cục mủ kích cỡ bằng quả trứng bắt đầu giáng xuống bà. Thật không thể chịu nổi! Nhưng ngay khi đứa bé ngừng khóc, âm thanh của sấm nổ và mưa đá giáng xuống lập tức ngưng lại. Toàn bộ không gian trở nên an bình, và mọi đau khổ, sợ hãi lắng xuống. Nhận thức bà trở lại bình thường trong một lúc. 

Phật giáo Tây Tạng thường tin rằng than khóc người chết sẽ làm hại họ. Đó là một trong những lý do mà Đức Milarepa diễn tả những mong ước này:

Nếu tôi bệnh, đừng ai hỏi thăm tôi,

Nếu tôi chết, đừng ai than khóc tôi,

Nếu tôi có thể chết trong sự cô độc như vậy,

Thì mong ước của hành giả này đã được hoàn thành.

Không có dấu chân [của họ hàng] tại cửa [của hang động].

Không có vết máu ở bên trong [đánh nhau dành quyền thừa kế]

Nếu tôi có thể chết trong sự cô đơn như vậy

Thì mong ước của hành giả này đã được hoàn thành.

Chokyi nghe anh bà nói với gia đình, “Khóc lóc chẳng làm được điều gì tốt. Tốt hơn nên sắp xếp tang lễ. Chúng ta phải thỉnh một vị lama để thực hiện phowa, sự chuyển di tâm thức. Chúng ta phải mời Ngài Thugje Rinpoche và hai mươi hoặc ba mươi vị tăng để thực hiện nghi lễ cho người chết.” (Một nghi lễ về cái chết kéo dài nhiều tuần hay suốt bốn mươi chín ngày tùy theo khả năng tài trợ của gia đình.” Chúng ta cũng phải thỉnh Ngài Gomchen [một lama Đại Thiền Giả] chủ trì lễ tang, vì bà đã có lòng tin nơi Ngài.”

Chokyi có thể thấy và nghe gia đình chuẩn bị đám tang cho bà, nhưng bằng cách nào đó bà tin rằng họ trù tính nghi lễ vì một số mục đích khác.

Khi Chokyi cảm một lama bắt đầu tụng Vajracchedika Sutra,[2] thấy hoan hỷ khi vừa nghe được kinh. Vào buổi trưa, Ngài Gomchen và khoảng hai mươi vị tăng đến. Bà đảnh lễ đến Ngài Gomchen và những vị khác và đến gần để nhận ban phước từ các Ngài. Khi không thấy các vị phản ứng, bà nghĩ rằng các Ngài giận và bà hỏi, “Nếu Ngài giận, vậy đến đây Ngài có phiền không?” Không ai nói một lời đáp lại. Chokyi không thể hiểu tại sao họ không thấy bà.

Chokyi thấy Ngài Gomchen đặt tay lên đầu “con rắn” và nói, “Chokyi, cái chết đã đến với con. Đừng bám luyến con cháu, tài sản, hay thực phẩm. Hãy hòa nhập tâm thức con với tâm thức ta. Sau đó chúng ta sẽ cùng nhau du hành đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc của Phật Vô Lượng Quang. Chúng ta sẽ đi đến đó!”

Chokyi suy nghĩ, “Con chưa chết. Con còn có thân.” Cùng lúc, bà muốn đi và hòa nhập theo hướng dẫn của lama. Nhưng vì sợ con rắn nên bà lui lại.

Vào lúc đó, bà nghe Ngài Gomchen hét lên PHAT, bà cảm thấy hoan hỷ và cực lạc. Sau đó Ngài Gomchen nói với gia đình. “Sự thực hiện phowa đã quá trễ, tâm của Chokyi đã hoàn toàn rời khỏi thân.”

Sau đó mọi người phục vụ bữa ăn chiều, nhưng chẳng ai cho Chokyi bất kỳ thực phẩm nào. Ngài Gomchen nói với con gái của Chokyi, “Hãy chia phần thực phẩm cho mẹ của con.” Nên con gái bà lấy một dĩa nhỏ thực phẩm với một miếng thịt và đem lại một ít trà. Đặt gần con rắn cô nói, “Mẹ ơi, mời mẹ ăn.” Dù bà vừa đói vừa khát, Chokyi không thể ăn vì ghê con rắn. Chokyi mất hết mọi thương mến con gái mình vì để thực phẩm gần con rắn.

Sau bữa ăn chiều, trong lúc thì thầm những bài nguyện, Ngài Gomchen đốt phần thực phẩm của bà trong lửa như một sur, một nghi lễ cúng dường lửa-thực phẩm. Chỉ như vậy Chokyi mới cảm thấy thỏa mãn như thể đã ăn uống xong. Sur là một nghi lễ truyền thống của Phật giáo Tây Tạng để cúng dường thức ăn, nước uống, và của cải cho người chết hoặc những sinh linh khác. Vật liệu sur được ban phước với những cầu nguyện và thiền định sau đó hồi hướng cho những chúng sanh hay riêng một chúng sanh nào. Những vật liệu đem đốt sẽ sinh ra mùi, vì mùi dễ hưởng thụ hơn Với nghi lễ cho những tinh linh và chúng sanh trong bardo.[3] này, Chokyi không còn cảm thấy đói hay khát nữa.

Ngay sau khi vị lama sắp xếp bàn thờ, họ bắt đầu thực hiện một nghi lễ chết phức tạp. Ngài Gomchen trụ trong thiền định. Chokyi tiếp tục cảm thấy buồn vì bà nghĩ mọi người đã khó chịu với mình và vì họ không phục vụ bà bất kỳ thức ăn nào. Khi bà không còn thân thô nặng để neo bám, bà thiếu sự ổn định để trụ trong một nơi hay duy trì một cảm giác kiên định.

Thế nên một ý niệm xảy đến với bà, “Ta sẽ lấy nữ trang của mình và bỏ đi.” Một cách trùng hợp, con gái bà òa lên khóc lần nữa, và một cơn mưa đá bằng máu và mủ bắt đầu nện vào Chokyi. Bà không thể thấy bất cứ thứ gì, và tâm bà bắt đầu nhảy quanh quẩn nhiều hơn.

Chokyi mong chạy đến Ngài Bangar Rinpoche đang dẫn đầu nghi lễ, nhưng bà nghĩ, “Ngài là một vị tăng. Ngài không thích một phụ nữ đến gần.” Nên bà trốn phía sau Ngài. Mặc dù việc thực hiện nghi lễ là êm dịu bà vẫn còn sợ hãi.

Sau đó bà chạy đến Ngài Gomchen. Bà thấy Ngài trong hình dạng một ánh sáng mờ của Đức Phật Bi Mẫn (Avalokiteshvara – Quán Thế Âm). Ngài đang nói, “Nyingje! Nyingje!” (Thương xót! Thương xót!) Chokyi hiểu rằng Ngài Gomchen đang hợp nhất tâm bà với tâm Ngài, trụ trong trạng thái thiền định bình thản. Nỗi sợ của bà được thanh thản và tâm kích động của bà hòa nhập vào cực lạc không thể tưởng.

Sau một lúc, bà trở lại với những suy nghĩ trôi nổi thông thường. Bà thấy người ta có bữa ăn. Ngài Gomchen lại làm lễ sur, và hưởng thức ăn đã được hồi hướng cho bà trong dạng mùi.

Sau một lúc, bà nghe một giọng nói từ bên ngoài, “Chokyi, hãy đến đây!” bà ra ngoài. Có ai đó mà bà nghĩ là cha mình. Ông nói, “Hãy ra ngoài, ta có cái này chỉ cho con. Ta sẽ để con trở lại ngay.” Vào lúc đó, bà suy nghĩ lần nữa, “Nhà mình đầy những vị lama. Nhưng tất cả các Ngài đều giận mình. chồng và con không thèm cho mình chút thực phẩm nào. Vậy mình sẽ theo cha.”

Ngay khi có tư tưởng đó, bà thấy mình trên một con đường khô khan xám xịt thậm chí không có cây hay một cọng cỏ. Từ đó bà có thể thấy sự vật trong một khoảng cách rộng lớn, và bà thấy một cánh đồng cát bằng phẳng. Giữa cánh đồng có một sông lớn đang chảy, nhưng khó nói là nó chảy theo hướng nào. Bà thấy một cây cầu rộng. Bên này cầu, tại chân núi là một thành phố lớn.

Người đã gọi Chokyi ra đem bà đến thành phố đó và nói, “Trước hết hãy nhìn quanh xem nếu có thể tìm thấy bất kỳ ai mà con biết. Ta sẽ đi qua bên kia sông. Con cũng nên đi đến đó.”

Thành phố này đầy người như thể bà nhìn vào một tổ kiến. Một số mặc quần áo nhiều màu và có da dẻ tốt. Số khác mặc đồ xấu xí và dơ bẩn. Nhưng tất cả đều buồn bã, khóc lóc và có gương mặt ảm đạm. Nghĩ rằng, “Mình có thể đối mặt với hoàn cảnh tương tự như những người này,” Chokyi bắt đầu run rẩy.

Ở giữa những người đó, Chokyi nhận ra Chogon, người thường chăm sóc gia súc của bà. Nhìn Chokyi, ông ta nói một cách quan tâm, “Chị đã đến đây hả?” bà nói, “Vâng, tôi đã đến.” Sau đó Chokyi hỏi dồn dập, “Anh sống ở đây hả? Những người đó là ai? Tại sao họ buồn thế? Có người yêu cầu tôi đến bên kia cầu, tôi nghĩ phải đi đến đó. Vậy ai ở phía bên kia?”

Chogon nói, “Đây là thành phố chuyển tiếp, biên giới của sống và chết. Chúng ta đợi ở đây vì tuổi thọ trên thế gian chưa hết. Những người có nước da tốt và mặc quần áo đẹp là những người đã tích lũy công đức trong quá khứ. Họ đang chờ thêm một số công đức tích tụ và hồi hướng cho họ bởi gia đình trong cõi người. Những người mặc quần áo dơ bẩn và nước da xấu là những người không tích lũy bất cứ công đức nào, hoặc không ai tạo công đức cho họ. Ngay sau khi tuổi thọ chúng ta cạn kiệt, mỗi người trong chúng ta sẽ đi qua bờ sông bên kia. Trên đó là vị Pháp Vương của những Tử Thần và những người hành hình của ông ta đóng ở đó. Họ sẽ kiểm tra nghiệp ghi chép của mỗi người. Sau đó họ sẽ gửi người có công đức lên những cõi cao hơn hoặc giải thoát. Những người phạm hành động xấu sẽ bị đọa xuống cõi địa ngục. Trong những cõi địa ngục, họ sẽ đau khổ không thể chịu nổi vì bị thiêu, nấu. Ngày và đêm, tôi lo lắng về số phận chờ đợi mình. Tôi đã đến bên kia đôi lần, nhưng họ chỉ dẫn tôi phải chờ ở đây, vì tuổi thọ của tôi chưa hết. Chị có thể đến bên kia và nghe Tử Thần nói gì. Nếu phải đợi ở đây, thì hãy trở lại.”

Sự Xét Xử Của Những Tử Thần

Ngay sau đó, Chokyi được gọi đến bên kia sông. Bà thấy một bức tường lớn ở đó. Phía bên kia của bức tường là một ngai bằng vàng vĩ đại. Trên ngai là vị Pháp Vương của những Tử Thần. Nước da Ngài màu vàng, và mặc áo tu sĩ với thiết kế bằng vàng. Hai tay Ngài trong tư thế thiền định. Trên đỉnh đầu Ngài có một chỗ phồng lên. Có màn lụa bao quanh và lọng thêu kim tuyến che trên đầu Ngài. Mọi loại trang trí và vật liệu cúng dường được sắp xếp chung quanh Ngài. Nên Chokyi thấy vị Pháp Vương trong thân tướng của Đức Phật.

Bên phải của Pháp Vương là một trong những Tử Thần trong thân người, đầu bò đang cầm một gương trong tay. Bên trái là một Tử Thần đầu khỉ cầm trong tay một cân. Phía trước Pháp Vương là Tử Thần đầu hươu, đang đọc và ghi chép. Ngoài họ ra còn có nhiều loại Tử Thần với những đầu thú khác nhau. Mặc những trang phục khủng khiếp, họ để lộ răng nanh bén nhọn, nhìn chòng chọc với đôi mắt lồi ra, vung mọi loại vũ khí, và hét lớn tràn ngập không gian “Giết! Giết! Đánh! Đánh! Ha! Ha! Hung! Hung!” họ chạy, nhảy khắp nơi. Thậm chí nhìn vào là hoảng sợ. Số phận của khoảng ba trăm người ở đây đang được tranh luận.

Giữa những người này có một vị tăng cầm chuỗi hạt trong tay. Vị Pháp Vương hỏi chi tiết về những việc vị tăng đã làm trong lúc còn sống trên thế gian. Ông liệt kê nhiều việc làm đạo đức. như một hành động xấu, ông nhắc đến chỉ một điều là ăn thịt.

Theo lệnh của Pháp Vương, Tử Thần Awa Đầu-Bò và Đầu-Khỉ kiểm tra lại bản ghi chép. Họ tường trình với Pháp Vương, ngoại trừ những khác biệt không quan trọng, những gì vị tăng nói là đúng.

Vào lúc đó, Bổn Tôn Bảo Hộ Trắng xuất hiện và biện hộ cho vị tăng, “Người này đã hoàn thành những hành động đạo đức không thể tưởng, và không phạm bất kỳ hành động xấu nào. Không thể gửi ông ta đến cõi người và thậm chí đến cõi trời, mà phải là một cõi tịnh độ của đức Phật.” Ngài trình bày một túi đầy những hòn sỏi trắng biểu trưng cho việc làm đạo đức của vị tăng.
Sau khi so sánh, họ thấy việc làm thiện nặng hơn nhiều so với việc xấu. Vị Pháp Vương nhận xét, “tất cả hành động bất thiện dường như bị loại bỏ bởi những hành động đạo đức của ông ta.”
Sau đó Pháp Vương đọc quyết định: “Ngươi đã đạt mục đích có một cuộc sống làm người. Sinh làm người tốt hơn sinh vào cõi trời. Vậy Ta gửi ngươi đến làm con của một gia đình giàu có. Ở đó ngươi sẽ tiếp tục theo đuổi con đường của Giáo Pháp và sẽ tiến bộ.” Sau đó vị tăng biến mất dọc theo một con đường lốm đốm vàng.

Sau đó những Tử Thần tra vấn người khác. Ông ta nói, “Tôi không có bất cứ mô tả chi tiết nào về những hành động đạo đức để trình cho Ngài. Tôi là một người nghèo, chẳng có chút gì để ăn. Vợ tôi cũng chẳng có tín ngưỡng. Vậy, ngoài chuyện trả thuế, tôi chẳng làm từ thiện nhiều, tôi không thể thực hành tinh thần và thân thể về Giáo Pháp. Tôi đã giết một ít cá, gà, dê, và cừu. Dưới ảnh hưởng của người xấu, tôi đã ăn trộm của một số người ẩn sĩ, tôi rất ân hận!” Ông ta run rẩy và tự đánh mình. Những Tử Thần với vũ khí cười lên sung sướng. Chokyi hoảng sợ.
Sau khi kiểm tra, những Tử Thần tường trình với Pháp Vương, “Có thể đếm số cá mà người này giết hay không? Ông ta cũng đã giết hai mươi chín con gà, bốn mươi bảy con heo, bốn mươi ba con cừu, và sáu mươi con bò. Hãy nhìn số côn trùng đã bị ông ta giết khi đốt một ngọn núi! Đã đánh và ăn cắp của bốn người đi hành hương.”

Vị Pháp Vương nói, “Ngươi đã phạm những hành động xấu như vậy. Ngươi đã có một tấm lòng mục rữa. Vậy còn dám quan tâm cho mình nữa hay sao? Trộm cắp và làm hại người có tín ngưỡng thậm chí còn nghiêm trọng hơn giết súc vật.” Ngài nói với Tử Thần, “Bây giờ hãy để ông ta chịu đau khổ trong những cõi địa ngục khác nhau. Vì ông ta đã thụ hưởng những thực phẩm ăn cắp vô đạo đức, nên phải chịu ăn uống bằng sắt nấu chảy.”

Bổn Tôn Bảo Hộ Trắng xuất hiện và bào chữa để giảm bản án, đưa ra hai mươi hòn sỏi trắng để tiêu biểu cho việc làm thiện của ông ta. Sau đó Hắc Quỷ xuất hiện và đòi hỏi phải giam ông ta vào địa ngục thấp nhất, đưa ra một số lượng khổng lồ sỏi đen với kích cỡ như Núi Tu Di. Lập tức, Tử Thần đặt thòng lọng quanh cổ và tóm lấy ngực với móc sắt, kéo ông ta vào phòng sắt nóng.
Kế tiếp, xuất hiện một thầy tu mang một túi thuốc trên vai. Khi được thẩm vấn, ông ta liệt kê mọi cầu nguyện đã tụng niệm và tất cả những cúng dường ông ta đã làm. Ông ta chưa từng để những yogi nghèo nào đi về tay không. Ông ta là thầy thuốc và trị bệnh cho tất cả họ với khả năng tốt nhất của mình, và đã trị bệnh được nhiều người. Ông không bao giờ đòi trả chi phí mà chỉ nhận những gì người bệnh đem cho. Ông chưa từng cho thuốc sai với bất cứ ai, chẳng bao giờ giết bất cứ gia súc nào, nhưng là một chủ nhà, ông bị liên quan gián tiếp đến việc giết gia súc.

Sau đó những Tử Thần kiểm tra qua gương rồi nói, “Ngươi đã nói thật về những việc làm đạo đức. Nhưng khi Chongthar anh của ngươi đến để trị bệnh. Vì ngươi ghen tị với của cải của ông ta, ngươi đã cho sai thuốc và anh ngươi đã bệnh nặng hơn trong tám tháng. Cuối cùng ngươi trị bệnh cho ông ta nhưng để trao đổi với sự điều trị của mình ngươi đã lấy một bộ áo giáp phẩm chất tốt. Ngươi cũng đã giết một trăm bảy mươi ba gia súc.”

Khi kiểm tra những hòn sỏi, số lượng sỏi trắng hơi nhiều hơn. Tuy nhiên khi kiểm tra bằng cân thì sức nặng của hành động bất thiện lớn hơn.

Vào lúc đó, Pháp Vương nói với tu sĩ, “Nếu ngươi không cho thuốc sai, ngươi có thể được tái sanh vào cõi trời hay cõi người.” Sau đó Ngài ra lệnh Tử Thần, “Đem ông ta vào hồ chất độc đang sôi, hãy để ông ta luôn uống chất độc đang sôi đó. Đóng một ngàn gai sắt vào thân ông ta. Khi những hành động bất thiện được tẩy sạch, hãy để ông ta đi lên. Tử thần chộp ngực ông ta bằng móc sắt lôi đi giữa những chấn động to lớn.

Kế tiếp một người đàn ông mặc quần áo len màu xanh dương thú tội, “Khi người vợ đầu tiên rời bỏ tôi, tôi cũng mất tất cả hai trăm gia súc. Để báo thù, tôi đốt hai căn nhà của cha mẹ cô ta, đốt bảy mươi lăm gia súc, bắn và giết một người đàn ông và một phụ nữ đang cố chạy trốn. Sau đó tôi lấy vợ lần nữa và trở nên giàu có. Để tịnh hóa những hành động sai trái, tôi đi hành hương khắp nơi ở Tây Tạng trong hai năm và đã gặp nhiều vị lama ban phước. Tôi than khóc sám hối mọi hành động sai lầm của mình trước mọi người. Tôi đã nhận được quán đảnh và hướng dẫn từ một vị Đại Thiền Giả và đã thiền định về bản tánh của tâm, sự hợp nhất của quang minh, tỉnh giác, và rộng mở. Tôi đã tuân theo nhiều bữa nhịn ăn và tụng niệm nhiều kinh điển và bài nguyện.”

Vào lúc này, Pháp Vương nói, “Có nhiều người vi phạm những hành động xấu, nhưng rất ít người tịnh hóa chúng. Mặc dù không có công đức trong hành động xấu, nếu ngươi tịnh hóa, chúng có thể được tiêu trừ. Đó là công đức của chúng. Nếu ngươi đã làm những việc thiện không có việc làm xấu, ngươi sẽ có thể trở thành một người dẫn dắt tất cả những ai có mối nối kết với ngươi đến giải thoát. Nhưng ngươi sẽ nhận tái sanh nơi cõi người và sẽ thực hành Kim Cương Thừa hay con đường mật truyền, và trong bốn kiếp ngươi sẽ thành công trong việc đạt Phật quả. Vậy, hãy đi theo con đường màu vàng, đó là con đường đến cõi người và trời.”

Sau một lúc, nhiều người đến phiên tòa của Pháp Vương cùng với Ngài Lingza Chokyi gửi lên hay xuống. Nhiều người được dẫn bởi vị thầy của họ. Nhưng rồi một người mới được đưa vào.

Vị Pháp Vương đột ngột đứng dậy, Ngài nói, “Ông ta đã đến kìa”. Tại một khoảng xa trên một con đường xuyên qua núi, Chokyi thấy một vị tăng với tầm vóc to lớn, được bao quanh khoảng ba trăm người đến gần. Nhóm này được khoảng ba ngàn người theo sau. Tất cả đều nhảy múa và ca hát OM MANI PADME HUNG. Sau đó vị tăng công bố, “Tôi tên là Jechung, Người Hát OM MANI PADME HUNG. Đây là thế giới của bardo và địa ngục. Tất cả những ai có mối liên kết với tôi, hãy đi theo tôi. Tôi sẽ dẫn đến cõi tịnh độ.” Đột nhiên cánh cửa của địa ngục tự nhiên mở ra. Những Tử Thần đuối sức, vũ khí rớt khỏi tay. Dòng người đi theo vị tăng. Những Tử Thần đứng dậy tôn kính và ban lệnh, “nhiều người trong các ngươi có thể đi nhưng không phải tất cả.” Khoảng ba trăm người bị bắt lại trong dòng người và trở lại phòng giam của họ trong địa ngục.
Chokyi không có mối nối kết với vị tăng này, nên không đi theo. Bà hỏi vị Pháp Vương, “Vị tăng này đem nhiều người đi mà không cần thẩm vấn. Ngài đã giải thoát những người này khỏi luật lệ nghiêm khắc của phiên tòa. Làm sao Ngài lại đầy quyền năng như vậy?”

Vị Pháp Vương giải thích, “Vị tăng đó được gọi là Jochung Ma-we Seng-ge, người hát OM MANI PADME HUNG. Trở thành một vị tăng khi còn trẻ. Ngài phát triển lòng tin nơi Avalokiteshvara, luôn luôn tụng niệm OM MANI PADME HUNG và phát triển lòng bi đến tất cả chúng sanh. Ngài tuân thủ và đẩy mạnh việc nhịn ăn. Ba trăm người đến với Ngài là những người đã thực hành những việc làm đạo đức và tuân theo việc nhịn ăn với Ngài. Những người mà Ngài dẫn dắt là những người tin tưởng, thấy, tiếp xúc, nhận được giáo lý hay nhận ban phước từ Ngài, cúng dường Ngài. Những người bị cản lại là những người không có nối kết hay có nối kết tiêu cực với Ngài.
Kế tiếp là một nữ tu sĩ hấp dẫn. Cuộc thẩm tra của phiên tòa bộc lộ rằng cô ta chỉ hưởng thụ cuộc sống. Cô không có niềm tin, không làm từ thiện, và khuất động nhiều việc làm bất thiện. Cô van xin được trả về để có thể thực hành Giáo Pháp. Nhưng cô đã bị đày xuống địa ngục.

Kế tiếp, là một cô gái với chuỗi tràng hạt trong tay đang hát OM MANI PADME HUNG đi đến gần. Tên cô là Marza Chodron. Cô đã nhận giáo lý và ban phước. Cô giữ niềm tin, tạo cúng dường, phục vụ những yogi, và chết lúc ba mươi ba tuổi.

Cô nói, “Tôi đã được các lama chỉ dạy rằng bất cứ âm thanh và hình tướng tốt hay xấu nào xuất hiện, chúng đều là ảo tưởng của tâm. Vậy tất cả các Ngài mà tôi thấy ở đây là những hình tướng tự hiện của chính tâm tôi. Trong chân lý, không có một thực thể đơn thuần nào hiện hữu. Tôi không nghĩ thân tôi hiện hữu. Bất cứ âm thanh, sắc tướng nào xuất hiện đến tâm tôi, thì chẳng có gì để nhận thức. Thế nên không có gì bị nấu sôi hay thiêu đốt trong cõi địa ngục.”

Trong gương, họ thấy nhiều hành động đạo đức hơn cô đã liệt kê. Nhưng họ cũng ghi chép rằng cô đã gián tiếp liên quan đến những hành động bất thiện như giết một nắm tay côn trùng. Cô cũng gián tiếp liên quan đến việc cho phép giết thịt bảy gia súc cho đám cưới của cô. Một phần tư hậu quả của việc sát sanh dành cho cha, mẹ của cô dâu và chú rể, một phần tư cho chính cô, một phần tư cho chồng, và một phần tư cho người đồ tể. Tuy nhiên Pháp Vương ca tụng toàn bộ ghi chép về cô: “Nhờ thiền định về bản tánh của tâm, ngươi đã nhận ra sự phi hiện hữu của sự vật. Tất cả chúng xuất hiện như năng lực của chính tâm ngươi. Ngươi đã tự rèn luyện trong tánh giác phi hiện hữu về ảo tưởng. Ngươi đã rèn luyện trong ý nghĩa của tâm bất khả phân và những đối tượng xuất hiện đến tâm. Đó là đạo đức tuyệt đối. Mặc dù chưa thể đạt được nhận thức tuyệt đối vì sự rèn luyện của ngươi chưa đủ dài, những gì ngươi thực sự đạt được đều hùng mạnh. Mọi hành động xấu thứ yếu đã phạm đều được tịnh hóa. Trước khi nhận ra bản tâm, như nó là, thì kiến thanh tịnh của cái thấy cõi tịnh độ sẽ chưa *xuất hiện. Bây giờ ngươi sẽ nhận tái sanh vào xứ Oddiyana[4] và sẽ tu hành trong rèn luyện mật truyền trong tám mươi năm. Sau đó sẽ nhận tái sanh vào cõi Tịnh Độ Cực Lạc và đạt được quả Phật.” Vào lúc đó, vị thầy của cô, Ngài Gomchen Kunga Yeshe đến. Có nhiều liên hệ với vị thầy này, cô đi theo con đường trắng.

Một ông lão khoảng bảy mươi tuổi đến, với chuỗi hạt và bánh xe cầu nguyện trong tay, với khoảng sáu mươi đàn ông và phụ nữ đi theo. Họ đang hát OM MANI PADME HUNG. Ông công bố, “Tôi là Sherab Rinchen, người chạm khắc OM MANI PADME HUNG trên những hòn đá. Mong tất cả những ai có mối kết nối với tôi hãy đến. Tôi đã được mời tới cõi tịnh độ của Đức Avalokiteshvara.” Khoảng bốn trăm người đi theo ông. Nhưng ba người bị những Tử Thần lôi lại.
Vị Pháp Vương nói, “Ông đã tụng niệm OM MANI PADME HUNG gần một trăm triệu lần. Đã chạm khắc OM MANI PADME HUNG trên nhiều hòn đá rồi đặt bên lề đường để người ta có thể tỏ lòng tôn kính mantra. Ông có một vợ và ba con. Người đi theo ông là những người có lòng tin nơi ông. Ông cũng có thể giải thoát nhiều người khác, nhưng vì quan điểm của người Tây Tạng cho rằng một lama lập gia đình là sai, nhiều người đã bị ngăn cản nên không có lòng tin nơi ông.”

Một Cái Nhìn Thoáng Vào Những Cõi Địa Ngục

Bây giờ, những người đã đến phiên tòa với Chokyi đều đã được gửi đi lên hay xuống sau khi thẩm tra. Với sự ngoại lệ của Chokyi, những người đến trước đều không còn ai. Nhưng nhiều người mới vẫn đang đến và chờ đợi. Chokyi nghĩ, “Mình chẳng có bất cứ bản liệt kê dài về những hành động đạo đức để trình bày. Nói dối là không hiệu quả ở đây. Vậy mình nên làm gì?” bà bắt đầu run rẩy sợ hãi.

Vào lúc đó, vị Pháp Vương nhắm mắt và bắt đầu trầm tư sâu xa. Sau đó Ngài hướng dẫn những Tử Thần, “Hãy để quý bà này thấy Thế giới của cái Chết. Hãy để bà ta nhớ lại tất cả những gì đã thấy, sau đó nhanh chóng đem trở lại đây.”

Một Tử Thần đầu-cọp đặt một thang đen xuống. Leo xuống ông yêu cầu bà đi theo để thấy những cõi địa ngục. Khi xuống, bà thấy mình trên một nền sắt đang đốt bởi lửa. Nền này được bao chung quanh trong một bức tường sắt khổng lồ đang cháy khoảng tám tầng. Trên những tầng khác nhau, Chokyi chứng kiến nhiều người đang trải qua những loại đau khổ khác nhau.

Trong số những cõi địa ngục mà Chokyi, Tsophu Dorlo, và những delog khác đã du hành qua là tám hỏa ngục và tám địa ngục hàn băng với những cõi địa ngục phụ. Chúng sanh trong những cõi địa ngục này đang chịu đựng những mức độ tra tấn khác nhau gây ra bởi những mức độ nghiệp bất thiện khác nhau của hành động thân, khẩu, ý, chủ yếu sự vi phạm đặt nền tảng trên sự sân hận hay thù ghét trong những kiếp sống trước.

Trên tầng thứ nhất ở dưới, nhiều người bị ném lưng họ lên nền đang cháy và cắt ra từng mảnh bởi những người hành hình. Mọi người đều nhìn nhau như kẻ thù và giết lẫn nhau với sự giận dữ to lớn. Bất cứ ai bị đuối sức, đều nghe một giọng nói, “Mong ngươi được sống lại.” Lập tức họ sống lại và trải qua tra tấn lần nữa. Những chúng sanh này là sự tái sanh của những người đã làm hại cha mẹ, bạn bè với ý nghĩ thù hận.

Trên tầng thứ hai ở phía dưới, những người hành hình đang ném những chúng sanh lên nền đang cháy. Họ vạch những đường trên thân và cắt họ thành từng mảnh theo lằn vạch với lưỡi cưa nóng bỏng. Những chúng sanh này là sự tái sanh của những người thợ săn hay đồ tể hoặc những người hạ độc người khác.

Trên tầng thứ ba ở phía dưới, nhiều chúng sanh bị ném vào cối sắt nóng bỏng và bị nghiền nát bằng búa cháy bỏng. Nhiều chúng sanh cũng bị chèn ép giữa những ngọn núi đang cháy. Họ là những tái sanh của thợ săn, đồ tể, kẻ giết gia súc, và kẻ chế tạo vũ khí.

Trên tầng thứ tư ở phía dưới, nhiều chúng sanh bị nướng trên lửa, và người ta chỉ có thể nghe tiếng họ gào thét. Họ là những người buôn bán chất độc và những kẻ giết người, gia súc, và chó. Họ cũng là những người phỉ báng tín ngưỡng và chế tạo vũ khí.

Trên tầng thứ năm ở phía dưới, trong một phòng khổng lồ nóng bỏng, bị thiêu đốt bên trong lẫn bên ngoài. Tất cả đều gào thét như tiếng sấm. Họ là tái sanh của những người xúc phạm Tam Bảo, giữ quan điểm đồi trụy, và trộm cắp những người có tín ngưỡng.

Trên tầng thứ sáu ở phía dưới, chúng sanh bị thiêu đốt trong ngọn lửa, thỉnh thoảng người hành hình lấy họ ra nghiền nát với những búa nóng bỏng, sau đó quăng họ lại vào ngọn lửa. Những người này đã chối bỏ luật nhân quả của hành động thiện và ác và đã giết những chúng sanh khác như cá, rắn với sự tàn bạo nghiêm trọng và khinh miệt nên nghiệp quả như vậy.

Trên tầng thứ bảy ở phía dưới, nhiều chúng sanh bị hầm trong sắt nóng chảy, và âm thanh của sắt sôi chảy gầm vang như sấm sét. Họ đã vi phạm những hành động xấu ác như đốt rừng giết chết nhiều chúng sanh và phá hủy công trình kỷ niệm của tôn giáo.

Trên tầng thứ tám ở phía dưới, chúng sanh bị đóng đinh vào nền đất nóng bỏng, thân họ bị cắt, bị đánh và tra tấn bằng nhiều dụng cụ khác nhau. Khi chúng sanh bị thiêu đốt, ngọn lửa chui qua những lỗ trong thân họ. Họ là những người chưa từng tích lũy công đức, đã phạm năm tội vô gián và vô gián tội phụ, đã hủy diệt những công trình kỷ niệm của tôn giáo và tài nguyên của cộng đồng. Họ cũng là những người phạm giới nguyện mật truyền, chấp thủ tà kiến, tạo ra niềm tin và mục đích tiêu diệt con đường mật truyền.

Chokyi cũng đi thăm những cõi địa ngục phụ gọi là “bốn địa ngục lân cận”. Trong những cõi này nhiều chúng sanh đang chìm trong bùn lầy dơ bẩn và đang ăn những côn trùng. Lưỡi của nhiều người bị kéo ra và bị cày bằng những lưỡi cày cháy bỏng. Khi họ trèo lên và xuống những ngọn núi mọc đầy những cây có những vũ khí sắc bén làm họ bị thương liên tục, hoặc họ đi trong một cánh đồng đầy lưỡi dao. Những tra tấn này là kết quả của việc làm ô uế nơi thanh tịnh và nơi thiêng liêng, kết tội người vô tội, bám luyến vào những đối tượng dâm ô, và thụ hưởng không hợp pháp tài sản của tôn giáo và của cha mẹ.

Sau đó Chokyi đi thăm tám địa ngục lạnh, ở đó vô số chúng sanh không mảnh vải che thân bị đông lạnh và run rẩy trên một nền băng tuyết với những cơn gió lạnh cắt da. Thân họ bị vỡ vụn thành nhiều mảnh và nhiều màu sắc, và họ bật ra mọi kiểu gào thét.

Thông Điệp Cho Người Đang Sống

Cuối cùng, Chokyi trở lại phiên tòa của vị Pháp Vương. Ngài nói với bà, “Ngươi là một trong những người bị đem đến đây vì nhầm lẫn, lộn xộn tên và thị tộc. Thân ngươi ở nhà vẫn an toàn. Mặc dù nhìn vào gương Ta không thể nhận ra bất cứ hạnh phúc nào đang chờ ngươi, nhưng bây giờ đến lúc ngươi có thể trở về nhà. Khi ngươi trở lại đây lần tới, hãy bảo đảm rằng ngươi không có lý do gì để lo lắng vì không có thực hành Pháp. Ngươi đã tự mình thấy hậu quả của những việc làm thiện và bất thiện.” Sau đó, Ngài gởi những thông điệp sau cho những người còn sống trên thế gian:

Có nhiều người đang thụ hưởng cuộc sống hoàn hảo của kiếp người,

Nhưng họ rời bỏ với hai bàn tay trắng không có bất kỳ thành tựu Giáo Pháp nào.

Với những người vô tâm các ngươi, hãy truyền thông điệp này:

Bảo họ rằng chính ngươi đã đến Thế giới của cái Chết

Bảo họ rằng ngươi thực sự đã gặp Pháp Vương.

Bảo họ rằng ngươi đã thấy mười sáu cõi địa ngục.

Bảo họ rằng biển sinh tử thì bao la.

Cho dù số lượng chúng sanh nam và nữ là vô tận,

Khi họ bị theo đuổi bởi nghiệp,

Không một ai có thể đi đâu khác, chỉ trừ một chỗ [phiên tòa của những Tử Thần]...

Khi kết quả của hành động xấu ác xảy đến với các ngươi,

Mọi hình tướng sẽ khởi lên như những kẻ thù.

Bất cứ thứ gì đều là kẻ thù.

Ví dụ như, một ngọn lửa xuất phát từ ngươi sẽ thiêu đốt ngươi.

Ngọn lửa này không bắt nguồn từ đâu khác.

Sự khởi lên nhận thức của chính ngươi như kẻ thù,

Là kẻ thù vĩ đại hơn bất kỳ thế lực khác.

Ai làm nên những vũ khí kinh khủng này?

Làm sao họ có chúng? Ai đã làm và đưa cho họ?

Ai là cha mẹ đã nuôi dưỡng

Những người hành hình ghê tởm của những Tử Thần?

Hiện tượng của địa ngục là [không thật] như giấc mộng của ngươi,

Ngươi sẽ không nhận ra tâm ngươi là vị Phật 

Trừ khi ngươi học hỏi để nhận ra bản tánh rộng mở của mọi hình tướng.

Khi ngươi biết con đường của giải thoát nhận thức,

Ngươi sẽ không thấy bất kỳ địa ngục nào ngay cả nếu ngươi tìm kiếm nó.

Thậm chí nếu tìm được, nó sẽ là một cõi tịnh độ cực lạc.

Người ngu si, đần độn – bị hoảng sợ bởi

Những hình ảnh tự tạo của chính tâm họ –

Mà thật ra họ bị sợ hãi bởi chính bóng mình.

Mặc dù không có thứ gì hiện hữu, sự vật xuất hiện trong nhiều tướng dạng.

Dù sự vật xuất hiện, đều không hiện hữu trong thực tại của chúng.

Đó là bản tánh của sự hợp nhất hình tướng và tánh Không.

Người không được giới thiệu vào bản tánh như vậy,

Chỉ nên suy nghiệm về bản tánh mà họ được giới thiệu.

Hãy xác định rằng tất cả chỉ là tự thân-hình ảnh,

Tất cả đều là ngươi, không tách biệt khỏi ngươi.

Vậy hãy quyết định rằng sinh tử và niết bàn là chính tâm ngươi.

Hãy siêng năng tụng niệm OM MANI PADME HUNG.

Không phải ngươi đã thấy năng lực lợi ích của việc tụng niệm mantra hay sao?

Đừng quên tất cả những thông điệp này,

Hãy kể với mọi người về những chuyện ngươi đã chứng kiến ở đây.

Vị Pháp Vương hướng dẫn Chokyi trở về nhà. Sau đó, đối diện với con đường hẹp xuyên qua núi tuyết mà bà đã đi vào, Chokyi bắt đầu bước đi với suy nghĩ trở về nhà. Ngay sau đó bà thấy mình ở nhà. Giường bà bị ngăn bằng một tấm chăn. Trong giường bà thấy xác một con rắn chết, được mặc quần áo như bà đã thấy trước đó.

Chokyi bối rối với gia đình bà, nghĩ rằng, “Họ biết ta sợ rắn nên mặc quần áo cho xác con rắn.” Bà quyết định, “Bây giờ, dù sợ hay không, mình phải cởi quần áo và lôi con rắn này ném ra ngoài cửa.” Bà nhắm mắt lại, hai tay nắm quần áo cởi ra. Cảm giác như thể bị té đưa lưng xuống, nhưng ngay sau đó bà thấy chính mình trong thân, như thể thức dậy sau giấc ngủ.

Chokyi hít một hơi dài, và người con trai lớn kêu lên, “Ama! Ama!” bà nói, “Ah.” Con bà la lớn, “Ama sống lại. Mọi người hãy đến đây!” Tất cả họ hàng chạy đến bà. Chokyi kể lại mọi sự kiện đã đi qua, và mọi người khóc. Nhớ lại những đau khổ của cõi địa ngục, bà cũng khóc. Dần dần bà hồi phục sức khỏe. Họ hàng bà làm một số cúng dường cho những vị lama và trở về nhà của họ.

Vào mùa thu, bà tài trợ cho nhiều người tụ hội để tụng niệm OM MANI PADME HUNG một tỷ lần. Bà cũng cúng dường cho nhiều tu viện.

Chokyi gởi chồng và con với thực phẩm dự trữ để đi đến một nơi ở đó họ có thể thực hành Giáo Pháp. Bà và con gái trở thành ni cô và du hành đến những nơi hành hương, hoàn toàn dâng hiến cuộc sống cho thực hành Pháp bằng việc bỏ lại phía sau tất cả hoạt động phàm tục.

Ngài Lingza Chokyi kết luận chuyện kể delog của bà:

Tôi đã chứng kiến cõi địa ngục trong con người. Sự chọn lựa hạnh phúc hay đau khổ trong tay họ. Khi lựa chọn giải thoát, đừng lo nghĩ quá nhiều về những gì mình muốn trong cuộc sống này. Bạn phải cố làm những gì tốt nhất cho kiếp sống tới của bạn.

Điều tốt nhất để làm là từ bỏ những yêu thích về cuộc sống này. Hãy cố nhận ra thật tánh của tâm bạn. Nó thật hùng mạnh đáng ngạc nhiên.

Điều tốt thứ hai là kềm chế không vi phạm bất cứ hành động bất thiện nào, dù thân, khẩu, hay ý, và cống hiến mọi nỗ lực của bạn cho hoạt động Giáo Pháp.

Tối thiểu, nên cúng dường một số tài sản cho những vị thầy, cộng đồng Giáo Pháp, và chia sẻ với những người nghèo.

Những Xét Xử Gì Chờ Đợi Tôi?:

Kinh Nghiệm Của Karma Wangdzin

Sau cái nhìn thoáng qua của bản tánh tối thượng, như chúng ta đã thấy trong chương 3, Karma Wangdzin đã trôi bồng bềnh vòng quanh như một lông chim trong không khí, vì bà chẳng còn thân thô nặng để neo giữ tâm thức. Giớ đây tâm bà trong sáng hơn nhiều lần lúc còn sống.

Một ý nghĩ lóe lên trong tâm Karma: “Tôi đã thực sự chết chưa?” bà nhìn chung quanh tìm kiếm một cách thất vọng nhưng không thấy ai. Đột nhiên sau đó bà quên câu hỏi là mình đã chết hay chưa. Bà cảm thấy cô đơn và nghĩ rằng vì ở nơi ẩn cư trong một thời gian dài. Nên bà tự nhủ, “Chỉ lấy đi thức ăn ngon, quần áo đẹp, và ham thích chuyện tầm phào thì không cần thiết thực hành Pháp. Tốt hơn mình nên trở về nhà thay vì chỉ ở đây nuôi dưỡng những cảm giác buồn bã.” Chỉ muốn về nhà, Karma thấy mình liền ở tại Ogtro, thành phố quê nhà và không còn ở nơi ẩn cư nữa.

Chồng Karma, là Chủ tịch của thung lũng không có ở nhà, ông đã đi đến Tu viện Traphu cùng với nhiều người khác. Những người còn ở nhà đang than khóc lớn tiếng với Karma bằng tên được ban cho bà, “Ôi, Lhawang Putri! Ôi Lhawang Putri!”

Karma cố nhấc cánh tay của một số người, và hỏi, “Bạn bị Chủ tịch trách mắng hả?” nhưng không ai trả lời thậm chí chẳng nhìn bà. Sau đó bà nghe một tiếng khóc lớn bên ngoài nhà bà. Ngoài đường, người ta nói với nhau, “Lhawang Putri đã chết!” nhiều người kiệt sức vì đau buồn, họ nói, “Bà thật khiêm tốn và rộng lượng.” Những người khác thầm oán trách: “Bà ta có xương khỏe và vai hẹp,” có nghĩa một trái tim cứng rắn và một tâm ganh tị.

Sau đó bà trở về nhà mình. Với những tiếng khóc lớn, những người trong gia đình đang than vãn, “Phu nhân của chúng ta đã qua đời!” “Thương thay cho bà!” “Buồn thay cho Chủ tịch!” bà thấy nước mắt đau khổ của những người thân, mưa máu và mủ rơi xuống bà trong hình dạng cỡ quả trứng. Cơn mưa nước mắt này đi kèm với tiếng động như sấm nổ và đâm vào da, và làm gẫy xương bà. Phần lớn thời gian, bà thấy mình ăn mặc như thường lệ, nhưng khi trong cơn giông mưa đá bà thấy thân mình không được bảo vệ vì bà bị trần trụi.

Từ một nguồn vô hình, Karma nghe một giọng nói, “Hãy đến Tu viện Traphu.” Chỉ muốn thôi, bà đã đến Traphu. Chồng bà và những người khác đang bận rộn sắp xép lễ hội. Hai vị tăng nhanh chóng đặt một bàn thờ với những thangka (tranh tôn giáo cuộn lại) và nhiều cúng dường phía trước họ. Bà nghĩ, “Ồ, họ đang Cúng dường Ngày thứ Bảy,” một nghi lễ hàng năm của Tu viện. Nhiều người bắt đầu từ Ogtro đến, từng người một an ủi chồng bà và mời nước uống theo phong tục.

Sau đó người quản lý của điền trang Chủ tịch đến. Ông ta đem nữ trang của Karma và đặt nó lên bàn thờ, sau đó chào vị chủ tịch và giải thích, “Chủ tịch, xin đừng khóc. Nó là sự thật, đây là một bi kịch đáng buồn, là lúc tim Ngài đau khổ to lớn. Nhưng bà không cóù trách nhiệm như vị phu nhân của vùng Pagro. Thậm chí bà còn giúp đỡ những cô gái lân cận rời bỏ cuộc sống gia đình để theo đuổi Giáo Pháp. Chúng tôi, cộng đồng, quan tâm đến nỗi đau của ngón tay trỏ của mình còn nghiêm trọng hơn cái chết của bà ta. Bây giờ chúng ta phải tập trung vào việc sắp xếp lễ tang.”

Một dòng nước mắt rơi xuống, vị Chủ tịch nói, “Mặt trời đã ở giữa ngày. Chúng ta chỉ còn sống với nhau một thời gian rất ngắn, tôi không có cha mẹ. Bà là người bạn thật sự mà tôi có. Giờ đây tôi cũng đã mất bà.”

Sau đó vị Chủ tịch hướng dẫn, “Trước khi hoàn tất lễ bốn mươi chín ngày, tốt hơn nên để thi thể của bà như nó là (để yên như vậy), không ướp xác. Bà là một loại người có thể sống lại như một delog. Chẳng hạn như Lingza Chokyi sống lại với nhiều câu chuyện kể sau khi chết.” Karma khóc và nghĩ, “Tôi chết thật rồi sao?”

Nhưng lúc sau đó, Karma lại tiếp tục tin rằng bà còn sống. Nắm lấy tay chồng, cố giữ chặt để cam đoan với chồng là bà còn sống và chẳng có cơ sở nào để cảm thấy buồn về điều gọi là cái chết của bà. Nhưng ông ta và bất kỳ ai khác thậm chí chẳng đáp lại lời cầu xin. Bà kết luận rằng mọi người đã giận mình.

Chồng bà yêu cầu một người phụ tá đưa một con trâu yak chở những bánh trà cho một số người. Nhưng Karma thấy trên đường ra ngoài, người phụ tá ăn trộm một số bánh trà bỏ vào túi cho riêng mình, bà thấy xấu hổ cho hành động sai lầm của ông ta vì những thứ tầm thường như vậy.

Ngay sau khi người phục vụ đem bữa ăn cho vị Chủ tịch, Karma mong ăn với chồng như thường lệ, nhưng không ai phục vụ bà thậm chí chồng cũng chẳng lo lắng hỏi bà. Bà khóc và nghĩ, “Bây giờ thậm chí chia sẻ một chút thức ăn cũng không được.” Bà khó chịu và nghĩ về chồng, “Ông là người không để tôi ở với cha mẹ yêu quý và không để tôi đi theo Giáo Pháp mà nói rằng, “Tôi sẽ chăm sóc mọi thứ bà cần.” Nhưng giờ đây ông đã cư xử giống như các tùy tùng của ông, tôi không có quyền, thậm chí chẳng được chia sẻ một chút thức ăn với ông. Bây giờ tôi trở lại nơi ẩn cư của tôi.”

Trước khi bỏ đi, bà nghĩ về chồng lần nữa, “Khi tôi còn là đứa con yêu quý của cha mẹ và được tự do đi theo Giáo Pháp, ông quyến rũ tôi với những lời hứa này nọ. Bây giờ ông chẳng chia cho tôi một chút đồ ăn thức uống nào. Ông đã cất dọn những nữ trang mà cha mẹ đã cho tôi. Trước đây ông coi tôi như một thiên nữ. Bây giờ ông ép tôi lang thang vòng quanh như chó đi lạc, bị mọi người lờ đi. Nơi ông, tôi chẳng còn tin bất cứ gì nữa. Tất cả hy vọng và lời hứa của ông giống như vẽ trên nước. Cuối cùng tôi đã hiểu ý nghĩa của người già nói, “Trước khi thòng lọng buộc quanh cổ họ, người phụ nữ chẳng chú ý bất cứ vấn đề gì.” Bây giờ tôi nên cảnh báo những cô gái chưa lập gia đình và hối thúc họ rời bỏ mọi thứ và đi theo Giáo Pháp làm ni cô.”

Sau đó bà hét lớn với mọi người, “Chủ tịch và tất cả tùy tùng, hãy lắng nghe tôi! Tôi ở đây đã trở thành nỗi phiền phức cho tất cả các người. Các người hãy hưởng thụ sự thỏa mản của đặc quyền và tài sản. Tôi sẽ tự thỏa mãn bằng Giáo Pháp. Chủ tịch, đừng có bất kỳ hối tiếc nào!” không một ai yêu cầu bà đừng đi, mà họ tiếp tục rên rỉ. Bà bèn bỏ đi.

Trên thung lũng, bà thấy một nhóm tinh linh đang đi xuống từ vùng đất cao của thung lũng. Họ thì thầm, “Đó là một lễ hội của Thung Lũng Gechu. Chúng ta nên đến đó.” Đi theo họ, bà cũng đến Tu viện Kunga Ling. Con chó thường thân mật với Karma bây giờ sủa và đuổi theo bà. Bà trốn và đợi bên ngoài. Sau đó một yogi đang thực hiện cúng dường torma (Bánh lễ) và nước rồi ném ra ngoài. Mọi loại chúng sanh, giống như ruồi đen bâu trên đồ dơ, hưởng những cúng dường này. Cúng dường chính được những sinh linh thực sự được hồi hướng hưởng thụ. Vật cúng dường còn thừa lại được chia cho những người khác, với họ thì không cần thiết hồi hướng.
Tuy nhiên, những tinh linh yếu đuối và bệnh hoạn chẳng được gì. Thất vọng to lớn, họ nằm úp mặt xuống đất và khóc lớn vì đói và khát. Một số họ gào khóc và ôm lẫn nhau. Karma cảm thấy tự xấu hổ vì bà trong hình dạng tốt hơn. Hướng đến những tinh linh đau khổ này, một lòng bi mẫn không thể chịu nổi phát triển trong tâm bà, nhưng không thể làm được bất cứ gì cho họ; giống như người mù giúp người mù. Bà khóc rất lớn cho họ. Vào lúc đó, bà nghe một giọng nói rõ ràng:

Trước hết, họ không tích lũy công đức trong quá khứ.

Thứ hai, đau khổ của họ là kết quả của những hành động xấu.

Thứ ba, đây chỉ là một số nhỏ chúng sanh liên quan.

Một cảm giác buồn sẽ chẳng giúp được ai, vậy chỉ nên buông lỏng.

Sau đó Karma muốn đến Zagrum thăm cha mẹ. Lập tức bà thấy chính mình ở Zagrum. Mẹ Karma đang nhiễu quanh một chùa như một luyện tập về lòng sùng mộ và tôn kính. Karma nhanh chóng nói với mẹ, “Amala, hãy cho con chút gì để ăn.” Mẹ bà không nói một lời và vẫn thực hiện đi nhiễu. Karma nghĩ, “Khi con đến bằng ngựa với những tặng phẩm được người làm khuân vác, mẹ thường khen, “Ồ, con gái tôi đã đến,” và mình sẽ được chào đón với hoan hỷ lớn bằng bia chang. Bây giờ cũng là mình mà mẹ lại lờ đi. Chắc một lá thư than phiền của Chủ tịch đã đến tay mẹ. Mẹ chăm sóc chồng mình, con của người khác nhiều hơn là chính con gái của mẹ.”

Nắm lấy áo mẹ, Karma van nài, “Vì con lấy vị Chủ tịch theo sự sắp xếp của cha mẹ, con nghĩ, ‘Bất cứ những gì xảy ra con đều chấp nhận như số phận của mình.’ vị Chủ tịch có mối liên hệ với một cô gái ở Shar, nhưng con là người đã trách mắng và đánh đập nó. Con không muốn kể về chuyện xảy ra này làm phiền cha mẹ. Vì con không thể sinh con, thậm chí con chẳng được chia phần ăn uống. Xin hãy cho con chút gì để ăn, rồi con sẽ đi thực hành Pháp.”

Chẳng nhìn đến hay nói một lời, mẹ bà đi vào nhà. Dù không được mời vào, Karma vẫn đi theo. Trong nhà cha mẹ, gia đình tụ lại và ăn chiều. Karma đói bụng và ngồi phía sau mẹ bà, chờ đợi được chia phần thực phẩm, nhưng lại không có ai đưa bất cứ thứ gì. Sau bữa ăn chiều, mọi người ra ngoài và Karma cũng vậy. Tin rằng mọi người đều giận bà, bà lăn ra đất khóc lóc buồn bã.

Sau đó, trong giây lát bà nhớ lại rõ ràng những hướng dẫn về việc kiểm tra những dấu hiệu của cái chết, do vị Thầy vĩ đại Norbu Trashi đã ban. Trước tiên bà kiểm tra bóng của mình. chẳng có bóng. Kế tiếp bà kiểm tra bước chân. Không có tiếng. Bà nghĩ, “Ôi trời! Chắc tôi đã chết! Đúng, dĩ nhiên! Cuộc sống làm người của tôi ngắn ngủi như một ánh chớp lóe. Nó bé nhỏ như cái thấy qua một cọng rơm. Tôi chưa từng đạt được bất cứ tự tin nào trong thực hành thiền định của mình. Con chưa lần nào làm từ thiện hào phóng để có thể nhớ lại. Giờ đây con sẽ bị bắt bởi những sứ giả của Thần Chết”. Hết sức đau buồn và than khóc, bà lăn ra bất tỉnh trên đất. 

Được Dẫn Dắt Bởi Một Bổn Tôn Bảo Hộ, Đức Tara Trắng

Khi Karma tỉnh lại, một phu nhân trong áo choàng trắng, tóc cột ở phía sau đang đứng trước bà, đang cầm một trống tay. Ngài là Tara Trắng, vị Bổn Tôn bảo vệ của Karma, nắm tay Karma Ngài an ủi bà:

*Kyema![5] Đừng buồn. Hãy đứng dậy!

Khi cảm xúc phiền não giày xéo, nếu con không nhận ra thật tánh của nó,

Khẳng định có kinh nghiệm Pháp là nói dối và tàn ác.

“Sinh và tử là kết quả của cuộc sống con người.

Chúng liên tục xảy ra” – Đức Phật đã nói.

Cái chết không chỉ xảy đến với con.

Chỉ với con đường này, tất cả chúng sanh phải đi.

Ta sẽ đi kèm để con có thể đi trong an bình.

Trong suốt chuyến hành trình chuyển tiếp, Karma không thể thấy Đức Tara Trắng, nhưng bất cứ khi nào dối diện hoàn cảnh quyết định, Tara Trắng sẽ xuất hiện và hướng dẫn bà. Tara Trắng là một vị Phật trong thân tướng người nữ, và Karma đã nối kết với Ngài vì bà cầu nguyện và thiền định về Đức Tara Trắng như hình ảnh của Đức Phật. Nhưng trong lúc Tara Trắng dẫn dắt Karma, Karma vẫn đối mặt với những hậu quả của quá khứ bà.

Trước khi đi với Ngài, Karma nói với mẹ, “Trong lúc con còn ở đây, mẹ chẳng cho con thứ gì để ăn. Sau khi con đi, mẹ đừng thấy hối tiếc.” Tuy nhiên, tâm bà vẫn còn bám luyến đến mẹ nên khi chia ly thật không thể chịu nổi. Bà hy vọng mẹ mình sẽ theo sau, nhưng mẹ không đi.

Karma càng lúc đi càng xa, cái thấy về thung lũng quê nhà dần dần biến mất sau một ngọn núi khổng lồ. Thổn thức vì buồn, đến một ngã ba đường. Bà chọn đi đường chính giữa. Vào lúc đó, trên đỉnh một ngọn núi hướng về phía tây, bà thấy một yogi và nhận ra đó là chú bà. Ông có mái tóc hoa râm và đang cầm một chuỗi hạt cầu nguyện màu đen. Tay và chân ông ta chuyển động như thể đang múa. Ông la lớn bảo Karma rằng bà đã đi sai đường.

Ông cho những hướng dẫn và ánh sáng trên con đường mà bà sẽ kinh nghiệm trên hành trình chuyển tiếp này. Sau đó bà nghĩ đến việc trèo lên núi, nhưng đột nhiên một cơn bão không mong muốn nhấc bổng bà lên bầu trời và ném bà xuống mặt đất nhiều lần

Cuối cùng, bà thấy mình ở giữa một đám đông người với những thân tướng và khuôn mặt dữ tợn. Những con mắt lồi ra của họ nhìn trừng trừng vào bà. Những răng nanh như trụ băng đe dọa bà. Họ mặc đồ da cọp và da báo hay da người với nữ trang bằng xương, họ đang thưởng thức món óc hầm trong những chén sọ người và đang diễn xuất với một đống ruột bằng hai tay trần. Những người khác đang vung nhiều loại vũ khí khác nhau trên đầu họ. Tất cả đều la như sấm, “HUNG! HUNG! PHAT! PHAT! Đánh! Đánh! Giết! Giết!” Karma phản ứng với nỗi kinh hoàng to lớn. Thậm chí bà không thể nghĩ hay nhớ bất cứ gì về gia đình và bạn bè.

Chẳng bao lâu sau bà thấy mình ở bên rìa của một cánh đồng bao la. Những cơn bão khủng khiếp bây giờ đã dịu lại. Từ nơi nào đó âm thanh của nhưng tiếng la “Giết! Giết!” vẫn đến bà, giống như tiếng sấm ở xa. Những những đau khổ và sợ hãi tệ hại nhất có phần dễ chịu, tối thiểu vào lúc đó.

Một lần nữa, Karma nhớ lại cha mẹ, gia đình, bạn bè và gọi tên của họ. Nằm lăn ra đất, bà khóc lớn, than vãn “Chẳng ai cho tôi một lời cảnh báo về những nguy hiểm như vậy, làm sao tất cả các người có thể đẩy tôi đi một mình như vầy?”

Vào lúc đó, Tara Trắng lại xuất hiện trước bà. Nắm lấy áo của Ngài, Karma khóc, hỏi, “Chị ơi, cánh đồng này gọi là gì? Tên của thành phố lớn ở nơi xa kia là gì? Tên chị là gì? Tôi có cha mẹ, chồng, và nhiều họ hàng, nhưng tôi không được bàn luận về chuyến đi này với bất kỳ ai. Tôi chỉ đột ngột đến đây – tôi chẳng được giúp đỡ. Xin hãy giữ lấy nữ trang này của tôi và giúp tôi trở về nhà.”

Tara Trắng trả lời, “Vì sức hút của nhầm lẫn, nhận thức của chính con khởi lên trong dạng của kẻ thù, cánh đồng này to lớn như thể cái nắp che phủ bầu trời. Nó được gọi là Cánh Đồng Hoang của những Lưỡi Dao, đây là con đường đến địa ngục của những chúng sanh có nghiệp xấu ác. Thành phố lớn đó là Thành Phố Vĩ Đại của Cái Chết. Nếu con không nhận ra Ta, tên bí mật của Ta là Vajrayogini. Chúng ta là những người bạn bất khả phân, giống như hình với bóng. Con có gia đình và bè bạn, nhưng con đã rời bỏ tất cả họ thậm chí chính thân thể con. Không có chọn lựa, con phải rời bỏ thân quyến và tài sản con đã sở hữu. Giờ đây con đã tới nơi được biết là bardo, con đang mang theo gánh nặng nghiệp trên vai. Nếu muốn sống lại, con nên thực hành Giáo Pháp. Con nên rộng lượng cho từ thiện đến những người cần. Nên đi đến những nơi hành hương và những chỗ ẩn cư. Nên từ bỏ mọi tham vọng thế gian và phát triển sức mạnh suy nghiệm trong bản tánh của tâm.”

Đột nhiên Karma bắt đầu thấy một cơn mưa lưỡi dao rơi từ trên trời xuống và một khu rừng những lưỡi kiếm mọc trên mặt đất. Những bộ phận thân thể và những mảnh thịt đầy khắp cánh đồng. Sợ hãi và chấn động, Karma té xuống đất bất tỉnh. Khi tỉnh lại, bà nghĩ, “Tôi thực sự chết chưa?” Một lần nữa, Đức Tara Trắng giải thích với bà, “Con đã bỏ thân xác lại ở thế giới người sống. Một số bạn bè và gia đình đang thức canh chung quanh xác con. Số khác đang khóc lóc và gọi tên con. Một số đang bận rộn sắp xếp lễ tang. Rồi một số khác nói “Ồ, bà ta là một vị Phật được giữ kín.”

Cuối cùng Karma nhận ra sự thật, bà nói, “Than ôi, giờ đây tôi đã chết!” cái chết làm bà chấn động mạnh. Suy nghĩ hối tiếc đã không cống hiến toàn bộ đời bà cho Giáo Pháp khiến choáng ngợp tâm bà. Khi bắt đầu nghĩ về những hành động xấu đã phạm trong lúc còn sống, tất cả chúng lóe lên sống động trước mắt bà. Bà không thể thấy bất cứ gì ngoại trừ những hành động xấu của mình. bà nghĩ, “Bây giờ tôi không thể thoát khỏi đây,” bà than vãn:

Những bạn bè của tôi, xin hãy dâng hiến cuộc sống của bạn cho Giáo Pháp linh thánh trong lúc bạn có tự do.

Tài sản bạn đã sốt sắng tích lũy chẳng có thực chất.

Hãy cúng dường nó cho Tam Bảo.

Những hoạt động này bạn quá cống hiến lại không có mục đích.

Hãy từ bỏ tất cả nỗ lực này, mà hãy nỗ lực trong cầu nguyện và thiền định.

Gia đình và bạn bè tụ hội cũng giống như những lữ khách tụ hội.

Hãy cắt đứt bám luyến vào họ và hãy đi ẩn cư.

Trong lúc vẫn còn hưởng thụ kiếp người, bạn phải dâng hiến cuộc đời cho Giáo Pháp linh thánh.
Vì bạn không thể tin vào bất kì thứ gì, 

Hãy từ bỏ thù hận, bám luyến, và ganh tị.

Hãy tỏ lòng tôn kính và niệm Mantra Lục-Tự,

Để tịnh hóa thân, khẩu, và ý của bạn.

Cầu mong tâm bạn an trụ trong thiền định!

Với niềm hối hận không thể kiểm soát bà khóc và tự đánh mình, Karma nói với Tara Trắng, “Chị ơi! Tôi không thực hành Pháp nhiều, cũng không phạm nhiều hành động xấu lớn. Tuy vậy, tôi vẫn bị cơn bão vùi dập. Tôi đã bị giữ trong những tia chớp nhiều màu với tiếng gầm ‘Đánh! Đánh! Giết! Giết!’ như hàng ngàn tiếng sấm nổ cùng lúc. Tôi đối mặt mọi loại kinh hoàng không thể tưởng. Tất cả những điều này là gì?”

Tara Trắng trả lời:

Sự xuất hiện của cơn bão là do những sứ giả của Cõi Chết chào đón con. Những chúng sanh trong nhiều thân tướng khác nhau là sự biểu hiện của những Bổn Tôn phẫn nộ và hiền minh trong chính con. Họ kêu lên âm thanh tối thượng, nhưng vì nhận thức tiêu cực con nghe thành “Giết! Giết!”. Vung lên nhiều vũ khí khác nhau là dấu hiệu của sự giải thoát khỏi cảm xúc phiền não tận gốc rễ. Mà con thấy như một cơn mưa vũ khí vì nhận thức con khởi lên như kẻ thù mình. Từ giờ trở đi con phải nghĩ, con thọ quy y nơi cái thấy và những âm thanh này, tiếp nhận chúng như thân tướng và âm thanh của Đức Phật.

Sự xuất hiện của ánh sáng nhiều màu là ánh sáng của Bổn Tôn hiền minh và phẫn nộ của chính tâm con. Ánh sáng ngũ sắc là ánh sáng của năm gia đình Phật. Vậy, hãy nghĩ, con thọ quy y nơi các Ngài.

Mọi âm thanh là âm thanh tự nhiên. Chúng không là một thực thể tách biệt mà là một biểu lộ của nhất như. Tất cả âm thanh, ánh sáng, và tia sáng này khởi lên như sự tự-hiện của chính tâm con. Đừng nhận chính nhận thức con như kẻ thù.

Con không vi phạm nhiều hành động xấu. Nhưng nhiều người trong thời buổi suy hoại này đối mặt với nỗi nguy hiểm đọa vào địa ngục vì họ nuôi dưỡng thật nhiều cảm xúc tiêu cực và vi phạm rất nhiều hành động xấu ác trong kiếp sống của họ.

Con sẽ trở về Thế giới của người Sống như một sứ giả từ Thế giới của người Chết. Vậy, phải mạnh mẽ và theo dõi mọi chuyện xảy ra ở đây thật kỹ lưỡng. Con phải nhớ mọi điều con thấy và nghe ở đây không được quên. Bây giờ chúng ta hãy cùng đến đó.

Thoáng Nhìn Vào Những Cõi Địa Ngục Và Thông Điệp Của Người Chết

Tại một góc hướng tây của cánh đồng bao la, Karma thấy một người đầu nai khủng khiếp đang cầm một thòng lọng đen, với đôi mắt lồi mở rộng, ông ta đang đuổi một phụ nữ lớn tuổi mang trang sức trên đầu. Karma hỏi Tara Trắng, “Trời ơi! Người đầu nai kia là ai? Người phụ nữ bí ẩn đó là ai?”

Tara Trắng nói, “Đừng sợ người đầu nai đó. Ngài là một trong những biểu hiện của Bổn Tôn trong cung điện của chính Những Bổn Tôn của màu sắc, hình dạng và kích*não con.[6] cỡ khác nhau xuất hiện tùy theo bản tánh con người. Người phụ nữ già đến từ Chenying của tỉnh Kham, bà là vợ của chủ tịch tỉnh và âm mưu với chồng trong việc ăn trộm, sát nhân và săn đuổi. Đây là nhận thức về lộ trình chuyển tiếp của bà ta. Sau đó sẽ bị xét xử và đày xuống địa ngục.”
Kế tiếp, Karma gặp một cây cầu sắt khổng lồ bắc qua một con sông chảy ồ ạt được gọi là Dòng Sông Vĩ Đại Của Sinh Tử. Tại phía đông của cầu, là một thành phố không thể tưởng, cư trú bởi những người sống tương phản. Một phần dân số – bao gồm trong họ là tăng, ni, và người thường – đều hoan hỷ, giàu có và đẹp đẽ. Họ ở trong những lâu đài được trang hoàng đáng kinh ngạc. Một số sử dụng thời gian hạnh phúc của họ để ca hát và nhảy múa. Những người khác cống hiến cuộc sống của họ cho tụng niệm và cầu nguyện OM MANI PADME HUNG. Nhưng một số người lại bố thí không mệt mỏi cho những người khác. Chẳng ai bị sợ hãi hay đau khổ.

Tuy nhiên, một bộ phận khác của dân chúng lại không có nơi để ở hoặc thứ gì để ăn. Họ liên tục bị đau khổ bởi đói và khát. Nhiều người khum bàn tay trên trán, như thể tìm kiếm thứ gì ở tận chân trời. Họ trông chờ một cách thất vọng bất kỳ dấu hiệu hứa hẹn của người thân sẽ hồi hướng công đức cho họ trong lễ tang để cải thiện tương lai họ. Thỉnh thoảng những Tử Thần lại bắt họ đi.

Đây là nơi người chết chờ đợi trước khi bị đưa đến phiên tòa của Pháp Vương để xét xử.

Nhìn những chúng sanh ở nơi này, một Tử Thần giải thích cho Karma, “Những người này, nhiều người được hạnh phúc vì họ có cuộc sống trong sạch và được người khác cư xử tôn trọng. Nhiều người đang hát những bài nguyện và vui vẻ do sức mạnh của những kinh nghiệm tâm linh ở quá khứ. Ngay cả những Tử Thần cũng không dám ngó đến họ. Nhiều người có tài sản vô tận và vẫn tiếp tục cho và nhận, vì họ đã từng cho tất cả những gì họ có khi còn ở Thế gian.
“Những người khác trong số người này bị đau khổ vì đói và khát vì không phục vụ hay tôn trọng người khác hoặc chẳng cho từ thiện một thứ gì. Thay vào đó, họ phỉ báng, trộm cắp, và tấn công người khác trong lúc còn sống. Họ đang chờ đợi trong hy vọng rằng người thân sẽ hồi hướng một số công đức cho họ. Chẳng bao lâu sau họ sẽ bị đưa đến phiên tòa của Pháp Vương, ở đó một số sẽ được giải thoát và một số bị đưa vào những cõi thấp.”

Kế đó, Karma tham quan cõi ngạ quỷ. Tất cả chúng sanh ở đây đều trần truồng. Bao tử họ lớn như thung lũng. Tay chân lại gầy như cọng rơm, cổ họng hẹp như một lông đuôi ngựa. Vì bị khát trầm trọng, lửa chiếu ra từ mồm họ. Những cơn đói không thể chịu nổi đang hành hạ họ.

Nhìn vào họ, một Tử Thần giải thích với Karma, “Những người này chưa từng cảm thấy rộng lượng trong đời họ. Họ chưa từng cúng dường bất cứ những gì cho mục tiêu tôn giáo, hoặc cho bất kỳ những gì tới người nào cần. Họ chưa từng có tư duy hào phóng, mà chỉ là sôi sục tham dục về tinh thần, thù hận thiêu đốt, luôn luôn kiêu mạn, vô minh tăm tối, và cơn bão của ganh tị. Họ cản trở người khác cúng dường, bố thí, và họ không thể hưởng thụ thực phẩm và nước uống thậm chí cho chính họ – tất cả là vị sự keo kiệt của họ.”

Karma thấy Đức Phật của Lòng Bi đang thăm những quỷ đói. Từ tay của Ngài, những dòng cam lồ tuôn chảy làm dịu những đau khổ của họ. Nhưng nhiều người trong họ không chỉ có thể huởng được dòng cam lồ mà còn không thể nhìn thấy Ngài hoặc trụ được trước sự hiện diện của Ngài.

Sau đó, tại cổng của một cây cầu, một cô gái trẻ quyến rũ lúc hát lúc khóc. Đức Tara Trắng hỏi, “Ô, cô gái xinh đẹp, cô sinh ra ở đâu và gia đình cô là gì? Tại sao lại múa hát mà còn khóc? Cô đang đi đâu, lên hay xuống?”

Cô gái đáp, “Than ôi, con từ cao nguyên ở phía Nam Tây Tạng. Tên của thành phố con là Neudong. Cha con là Chogyal Tsering và mẹ là Sechung. Tên con là Dorje Gyalmo, thung lũng của con bị người Mongol (Mông Cổ) cướp phá, họ ép con đến Mongolia. Con chết vì bệnh nặng. Con đến đây không còn cơ hội gặp lại cha mẹ lần nữa. Vị Pháp Vương nói với con, “Hỡi con gái, con từ một gia đình xuất sắc và có một tâm trong sáng, không bản ngã. Tuy nhiên, con quá bám luyến cha mẹ và của cải của con. Ngoài ra con còn hưởng được một số tuổi thọ. Vậy con hãy trở về để nhận tái sanh là một trong thung lũng con.”*manmo[7] 

Tara Trắng lại hỏi cô, “Tại sao tâm con lại quá bám luyến?” cô gái đáp, “Sau khi con chết, thay vì đem cho những sở hữu của con vì điều thiện, tạo công đức, người ta lại đem bán cho một phụ nữ lạ. Cho nên thậm chí trong cái thấy kinh khủng của những Tử Thần, con vẫn nghĩ về việc bất hạnh này. Do bám luyến đó, vị Pháp Vương ra lệnh cho con tái sanh như một manmo.”
Trong mô tả của bà, Karma không nhắc đến việc đi đến mỗi cõi địa ngục, nhưng bà thật sự thấy rất nhiều chúng sanh đang chịu đau khổ không thể tả. Bà đã nhận những thông điệp của một ít người gởi cho người thân còn sống của họ.

Bị Triệu Đến Phiên Tòa

Sau đó Tara Trắng dẫn Karma đến cung điện của Pháp Vương của những Tử Thần. Năm bức tường đồng tâm bao quanh cung điện này. Mỗi hướng có bốn cổng, và tám vị canh gác trong tướng dạng khủng khiếp bảo vệ mỗi cổng. Họ được vũ trang với những vũ khí kinh khủng, và hét lên như sấm, “HUNG! HUNG! PHAT! PHAT! Đánh! Đánh! Giết! Giết!”

Trước cổng phía bắc, trên một bệ đá lớn, Karma thấy những đống bộ phận thân thể. Chúng bị cắt thành từng mảnh bởi những bánh xe sắt xoay tròn có vũ khí sắc bén từ trên trời giáng xuống. Chúng bị nghiền nát thành bụi bằng mọi loại dụng cụ bởi những người hành hình theo lệnh của những Tử Thần. Với nỗi sợ hãi và buồn bã to lớn, Karma té xuống đất. Đức Tara Trắng vực bà dậy và nói:

Đây là kết quả của chính hành động họ,

Thậm chí nếu Đức Phật đến đây trong thân người, Ngài cũng không làm gì được,

Vì đó là kinh nghiệm những kết quả của nghiệp họ

Con đừng nên buồn.

Lòng của Karma bị hành hạ với niềm hối tiếc đau khổ to lớn, bà nghĩ, “Mình chẳng thực hành nghiêm chỉnh bất kỳ Giáo Pháp nào trong lúc còn sống. Giờ đây không biết loại tra vấn gì mà vị Pháp Vương của những Tử Thần sẽ hỏi, không biết loại xét xử gì sẽ chờ đợi mình?

Nếu có cơ hội trở lại thế gian, tôi sẽ giải thích sự nghiêm trọng của nghiệp với mọi người bằng cách kể chính xác những gì tôi đã chứng kiến, chẳng phải dạng bọc đường. Tôi sẽ bố thí mọi thứ mình sở hữu cho mọi người không bám luyến. Bỏ lại đằng sau mọi hoạt động thế gian, tôi sẽ suy nghiệm về bản tâm. Không bám chấp vào bất kỳ ai, tôi sẽ một mình lang thang từ nơi ẩn cư này đến nơi ẩn cư khác. Tôi sẽ luôn quán tưởng đến lama của tôi trong tâm, và sẽ liên tục cầu nguyện đến Tam Bảo. Tôi sẽ không tiếp đãi vui chơi với bạn bè và thân quyến.”

Vào lúc đó, Karma nghe một giọng nói lớn xuất phát từ cung điện của Pháp Vương. Một vị gác cổng tiến đến Đức Tara Trắng và Karma rồi nói, “Đây là dấu hiệu gọi ngươi đến phiên tòa của Pháp Vương.”

Đau khổ bóp nghẹt trái tim Karma như thể bị trúng tên. Bà bị hành hạ bởi nỗi hối tiếc đã không thực hiện những thực hành Pháp quan trọng. Bà khóc và nghĩ, “Tuy vậy, mình đã cầu nguyện đến chư Phật không ngưng nghỉ. Vậy, chư Phật xin hãy chăm sóc con với đôi mắt từ bi.” 
Chùi nước mắt Karma, Tara Trắng nói, “Con chưa từng làm từ thiện cũng như chưa từng thiết lập bất cứ thành tựu thiền định kiên cố nào. Nhưng tâm con trong sáng như một tấm gương, không bị nhiễm ô vì hậu quả của những hành động xấu, con và Ta đã trụ trong bất khả phân một thời gian dài, vì nghiệp thương mến và khao khát.”

Nắm tay Karma, Tara Trắng dẫn bà đi qua cổng. Họ leo lên bậc thang bằng đá lớn. Karma run rẩy sợ hãi, sau đó họ đi vào một phòng lớn. Chính giữa phòng là vị Pháp Vương của những Tử Thần. Karma thấy vị Pháp Vương trong thân tướng của Đức Guru Rinpoche, Padmasambhava. Ngự trên một ngai có bốn sư tử đỡ, Ngài mặc, trang hoàng, và cầm pháp khí như Karma đã thấy trong hình vẽ. Với tia nhìn của Guru Rinpoche, thân và tâm Karma lập tức tràn đầy những làn sóng sùng kính. Những sợi lông trên thân bà dựng đứng. Dòng nước mắt hoan hỷ tràn ra, bà muốn chạy đến đảnh lễ trước Guru Rinpoche, nhưng kịp dừng lại vì sợ những Bổn Tôn phẫn nộ nam và nữ đang đứng chung quanh Ngài.

Những Bổn Tôn phẫn nộ này trong thân tướng khủng khiếp, mặc trang phục gây kinh hoàng và vung lên những khí cụ kinh khủng. Tại chân Guru Rinpoche, về bên phải, là một Tử Thần có thân người, đầu bò. Ông đang cầm một gương và đang quan sát những việc làm của những chúng sanh trình diện trước Pháp Vương. Kế Ngài là Tử Thần đầu-cọp, đang ghi chép những gì chúng sanh đã làm. Phía trái của Guru Rinpoche là Tử Thần đầu-rắn. Ông đang thẩm tra mọi người trình diện ở phiên tòa. Phía trước Guru Rinpoche là Tử Thần đầu-heo. Ông đang giữ những bản mô tả và liệt kê. Ngoài những vị này còn có nhiều Tử Thần có những đầu thú khác, đang cầm mọi loại khí cụ.

Tara Trắng nhắc nhở Karma, “Bên ngoài, người ngồi giữa là Pháp Vương của những Tử Thần. Bên trong, Ngài là Guru Rinpoche. Bên ngoài, người bên phải Guru Rinpoche, đang theo dõi chúng ta với đôi mắt lồi và nói vang như sấm, “HUNG! HUNG! PHAT! PHAT!” là một Tử Thần. Bên trong, Ngài là tướng phẫn nộ của Đức Manjushri (Văn Thù), vị Phật của Trí tuệ. Nếu mở lòng cầu nguyện đến các Ngài, con sẽ thoát khỏi nguy hiểm và sợ hãi. Tất cả Tử Thần phẫn nộ nam và nữ là chư Phật hiền minh và phẫn nộ. Nếu con mở rộng cầu nguyện đến các Ngài, con sẽ thọ tái sanh vào những cõi cao. Con phải ghi nhớ những điểm trọng yếu này. Con cũng không vi phạm bất cứ hành động xấu ác nghiêm trọng nào, nên đừng thất vọng. Hãy đứng dậy và tỏ lòng tôn kính đến các Ngài, và lập nguyện cho chính mình và tất cả bà mẹ-chúng sanh.”

Karma đảnh lễ một lần như một cử chỉ tôn kính, nhưng trước khi đảnh lễ lần thứ hai hay lập nguyện, vị Tử Thần Đầu-Rắn ngăn lại. Ông đề nghị bà ngồi xuống ở một góc. Ngay khi ngồi xuống, bằng một giọng ầm ầm vị Pháp Vương nói những Tử Thần đang đứng trong sân của cung điện, “Một người mới chết từ cõi người mới đến. Hãy đem lại đây ngay.” Trong sân điện nhiều đại diện đang cầm mọi loại khí cụ vung lên với tiếng gầm lớn HUNG! HUNG! PHAT! PHAT!
Vào lúc đó, một phụ nữ xuất hiện trong sân. Đối mặt với những cảnh khủng khiếp này, thoạt tiên bà ta cố chạy trốn, nhưng chẳng có chỗ nào thoát. Sau đó, vung gậy OM MAINI PADME HUNG, bà hát Mantra Lục Tự. Ngay khi nghe âm thanh lục tự linh thánh, tất cả Tử Thần an định lại nơi của họ. Người phụ nữ được một phu nhân trong áo choàng trắng đi kèm. Tóc Ngài cột búi bằng một dây lụa đỏ, cầm một chuỗi pha lê. Cầm lấy tay người phụ nữ, vị phu nhân dẫn vào cung điện. Bà được tự do, dường như không Tử Thần nào có năng lực ngăn cản hay đe dọa bà. Tuy nhiên, khi kiểm tra, bà bị nhiều sự oán giận về hệ thống quan liêu của xã hội. Vì lý do đó, bà ta phải bị tái sanh làm chim và sau đó mới được làm người.

Kế tiếp Karma nghe một giọng nói lớn. Bà nhìn về hướng đó và thấy một vị tăng đội một mũ. Ông nói với bà, “Giờ đây ngươi đã hiểu hậu quả của nghiệp. Ngươi đã thấy diện mạo của Pháp Vương. Ngươi đã chứng kiến những đe dọa của Tử Thần. Ngưởi phải nhớ trong tâm nghiệp quả là chắc chắn và những hướng dẫn của Pháp Vương đã ban. Bây giờ ngươi phải trở lại cõi người. Gia đình sắp quyết định thân ngươi.” Nói xong, ông biến mất như làn gió thoảng.

Sau đó Tara Trắng khẩn khoản với Pháp Vương:

Ô Pháp Vương, xin lưu ý đến con!

Tâm Karma đã thức tỉnh đến Giáo Pháp.

Vì nghiệp nối kết vượt trội, nên đã thấy Ngài như Đức Guru Rinpoche.

Thân và tâm cô đã tách rời trước khi thọ mạng cạn kiệt.

Vì bám luyến của cô, nên đã bị đau khổ về những kinh nghiệm chuyển tiếp này.

Cô đến với Pháp Vương vì nguyện quá khứ.

Cô đã chứng kiến nỗi sợ hãi về những Tử Thần, chân lý của luật nhân quả.

Cô đã ở đây bảy ngày và

Thi thể chết của cô giống như căn nhà trống đang lạnh giá [trong cõi người].

Nên cô phải được trả về như sứ giả của Ngài đến những *người của châu lục Jambu[8].

Hoặc cô có thể tái sanh làm người trở lại.

Hoặc cô nên được gửi qua những giai đoạn của những bậc trì giữ-trí tuệ.

Ôi Pháp Vương, cô ta nên đi đâu, xin Ngài hãy ban lệnh.

Pháp Vương nhìn chòng chọc và thể nhập vào tư duy Karma trong một lúc. Sau đó, nhìn vào gương, Ngài kiểm tra lại những chi tiết về việc làm ở quá khứ của Karma và nói, “Trong quá [9] sống lại vì những Tử Thần đem+khứ, Lingza Chokyi đến bị nhầm tên cô và tên bộ tộc. Nên hai cô, Samten của [10] và Yungtrul Wangmo từ Kham, được trả về.ºDartsedo Samten của Dartsedo được gửi về với những hướng dẫn chính xác, cô phải thực hành Giáo Pháp không được vi phạm bất cứ hành động xấu nào. Yungtrum của Kham được trở về để thực hành Giáo Pháp nhằm nhận ra bản tâm.”

Sau đó Pháp Vương nói, “Bây giờ ngươi trở lại châu lục Jambu để gợi cảm hứng cho con người đến Giáo Pháp và cũng đem thông điệp từ những chúng sanh của Cõi Chết cho người thân của họ ở Cõi Sống. Vì công đức và nguyện quá khứ, ngươi sẽ hoàn thành đại lợi ích khi trở lại thân ngươi.”
Pháp Vương đưa những hướng dẫn chi tiết và tiên tri với thông điệp sau cho những người ở châu lục Jambu:

Nói với họ rằng, Ta, là Pháp Vương, ở đây.

Nói với họ rằng ở đây chúng tôi có nhiều cách tinh vi

Tìm ra người nào đã phạm điều xấu hay làm điều tốt.

Nói với họ rằng người sùng kính Giáo Pháp được lên cõi cao hơn.

Nói với họ rằng người ham mê làm việc xấu bị đọa địa ngục.

Ngươi, người dân của châu lục Jambu,

Nói chung, phải đi theo Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni,

Và đặc biệt tôn trọng mệnh lệnh của Ta,

Bên ngoài, Ta là Pháp Vương [của những Tử Thần];

Bên trong, Ta là Avalokiteshvara, Đức Phật của Lòng Bi.

Hãy tụng niệm OM MANI PADME HUNG, tinh hoa của Avalokiteshvara.

Bên ngoài, Ta là Pháp Vương,

Bên trong, Ta là Guru Rinpoche.

Hãy tụng niệm OM AH HUNG VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUNG.

Bên ngoài, Ta là Pháp Vương;

Bên trong, Ta là Phật Thích Ca Mâu Ni.

Hãy rèn luyện trong giáo lý của Đức Phật.

Hãy luôn làm mạnh mẽ tâm trong hành động đạo đức. 

Lập tức từ bỏ thậm chí những hành động xấu dù nhỏ nhất.

Hãy quán tưởng lama của ngươi trên đỉnh đầu.

Cống hiến những phục vụ tốt nhất cho tất cả bà mẹ-chúng sanh.

Bây giờ đã đến trưa [ở nhà ngươi].

Với mong muốn đơn thuần, hãy nghĩ về nhà của ngươi.

Vào lúc này, nhiều người đã chết được đem đến trước phiên tòa của Vị Pháp Vương bởi những người hành hình, van nài với Karma: “Nếu cô may mắn được trở về với cõi người, xin gửi lời nhắn gửi của tôi đến với người thân của tôi. Yêu cầu họ thực hiện một số những việc làm thiện và cống hiến phục vụ cho Tam Bảo thay cho tôi. Để làm giảm đi những đau khổ của cõi địa ngục, không có bài nguyện nào hiệu quả hơn OM MANI PADME HUNG. Vì vậy, hãy tụng niệm hay yêu cầu người khác tụng niệm OM MANI PADME HUNG mười ngàn lần. Xin hãy chạm khắc mantra này trên đá và tích lũy chúng. In chữ trên vải và treo chúng như cờ. In lên những mảnh giấy và quay chúng như những bánh xe cầu nguyện.”

Karma Trở Lại Thân Bà

Sau đó ý tưởng đến tâm bà, “Bây giờ mình phải trở về thung lũng.” Lập tức bà thấy mình tại Traphu, nhà bà.

Tại lối vào, bà thấy xác chết một con chó già. Mắt nó hõm sâu xuống, và nước dãi đóng quanh mõm. Karma vừa sợ vừa gớm. Thoạt tiên bà bỏ chạy, nhưng sau đó bà nghĩ, “Mình phải vào nhà bằng cách bước qua nó, tâm thức bà nhanh chóng vào cơ thể và bà bị giam trong đó. Bà đã thấy xác chết mình như xác một con chó.

Trước tiên bà mệt mỏi, và cảm thấy như chạng vạng tối. Sau một lúc bà bắt đầu dần dần lấy lại ý thức, nhưng không thể cử động như không có sức mạnh trong thân. Ký ức bà trở nên sắc bén dần. Khi cử động được một ít, người ngồi bên cạnh bà canh xác thấy được cử động đó. Ông la lớn PHAT! ba lần một cách kích động. Bà vẫn còn bị ám ảnh bởi những hình ảnh và cảm xúc của nỗi đau trong cõi địa ngục, nhưng âm thanh PHAT đã xua chúng đi. Miếng vải quấn mặt bà nâng lên một chút. Người đó tự hỏi, “Có khi nào sức mạnh tinh linh nhập vào xác của Karma và biến bà thành quỷ nhập tràng chăng?” Ông mở vải che mặt và nhấn vào đầu bà nhiều lần. Rồi ông nhấn vào tay bà, nhưng bà không đủ sức để nhấn lại hay bảo rằng bà vẫn còn sống. Sau đó ông kiểm tra ngực và thấy rằng vẫn còn hơi ấm ở trái tim. Ông gọi to những thành viên trong gia đình Karma: “Hãy đến đây! Phu nhân đã sống lại!”

Mẹ Karma khóc lóc chạy đến, “Con gái tôi, con về lại hả?” người ta nhanh chóng mở vải liệm trên thân Karma. Vào lúc đó, vị chủ tịch đến. Ông ra lệnh chuyển vợ mình sang vị trí khác và phục vụ sữa, mật ong. Tuy nhiên, Karma không thể ăn hay thậm chí húp chất lỏng trong một tuần. Người ta nhỏ từng giọt vào miệng bà. Từ ngày kế tiếp, từng chút một, bà lấy lại sức mạnh và phục hồi làn da.

Sau đó, Karma và gia đình thuê hai người ghi chép. Họ đặt kế hoạch viết và chia làm hai phần tất cả thông điệp của người chết gởi về cho người thân qua Karma. Trong phần một, họ bao gồm những thông điệp cho người thân ở U (trung tâm), Tsang (hướng Tây), và Lotrag (hướng Nam) là những tỉnh của Tây Tạng. Trong phần hai, họ đặt những thông điệp cho người thân ở Mongolia và tỉnh Mon. Bà cũng đặt kế hoạch du lịch khắp xứ sở để mang thông điệp của vị Pháp Vương cho công chúng.

Nhưng không may, mẹ của Choje’i Trung, một phụ nữ quyền thế nói, “Karma từ một bối cảnh thấp kém trở về từ cõi chết để tranh thủ cuộc sống con người.” Những người khác nghe và nói, “Bà ta là quỷ!” Thay vì tin Karma, người ta lại tấn công bà.

Vào lúc đó, vị Chủ tịch quyết định, “Tốt hơn giữ bí mật toàn bộ sự việc trong một thời gian,” và họ làm như vậy.

Sau một khoảng thời gian, Karma đi nhận giáo lý từ một lama quan trọng được gọi là Ponlob Jetrung Rinpoche. Ngài ngạc nhiên bởi sự tiến bộ quán sát và thiền định của Karma. “Thậm chí có người đã học trong một thời gian dài cũng không dễ có được những nhận biết như vậy.” Vào lúc đó, một người theo hầu Karma tình cờ nói với vị lama, “Lẽ dĩ nhiên, vì bà ta trở về từ Cõi Chết, nên dễ nhận ra bản tánh tối thượng.”

Vị lama đáp lại, “Tôi cũng đã ba lần tới Cõi Chết. Chúng ta nên so sánh những ghi chú và xem những kinh nghiệm của chúng ta có giống hay không. Phu nhân, hãy kể kinh nghiệm của bà cho chúng tôi.”

Karma bắt đầu kể những kinh nghiệm của bà cho lama. Những người đang nhận giáo lý từ lama, từng người một cũng đến gần để nghe. Cả vị lama và những người khác đều chảy nước mắt về những gì họ nghe. Suốt một ngày thay vì nghe lama giảng dạy như lệ thường, mọi người lại lắng nghe chuyện kể của Karma.

Hoàn toàn tin tưởng câu chuyện của Karma, vị lama nói, “Mô tả của con là hoàn toàn có giá trị xác thực. Trong thung lũng này, con đang bị lãng phí. Con phải du hành khắp xứ sở để phục vụ dân chúng. Ta sẽ cung cấp sự vận chuyển, lương thực, và tùy tùng. Con phải du lịch khắp nước.”
Tuy nhiên, sau đó, Karma chủ yếu sống với mẹ. Khi đến trước Pháp Vương, bà sợ hãi những Tử Thần nên trong lúc vội vã bà đã cầu nguyện đạt Phật quả cho chính mình nhưng quên cầu nguyện cho lợi ích của tất cả chúng sanh. Ngoài ra, bà quá bám luyến mẹ. Vì hai lý do này, Karma không phục vụ lớn lao cho người khác.

Không Sợ Kẻ Thù: 

Kinh Nghiệm Của Denma Sangye Seng-Ge

Sự mô tả delog của Denma Sangye seng-ge là đáng chú ý vì khái niệm về việc làm sao chúng ta thoát khỏi ràng buộc của sợ hãi, ảo tưởng và nhớ lại việc trụ trong trạng thái thiền định.

Sau khi ra khỏi thân, Denma tường trình, ông du hành khắp vũ trụ chỉ trong một chốc lát. Ông cảm nhận mình thấy mọi sự kiện ở quá khứ, hiện tại, và tương lai cùng lúc. Dường như ông có một thân ánh sáng và có thể du hành bằng ánh sáng của thân ông. Ông cảm thấy mình được bao phủ trong những tia sáng ngũ sắc. Với sự thanh thản to lớn, ông di chuyển với tốc độ của ánh sáng, có thể đến bất cứ nơi nào ông muốn.

Giữ chặt một chùm ánh sáng ngũ sắc xuất hiện phía trước, Denma hét lớn âm HIK bảy lần. Ông tiến vào bầu trời, thấy chính mình trong cõi tịnh độ tối thượng của đức Phật, được gọi là Thế Giới Thiên Đường Cực Lạc Vô Song. Ở đó ông thấy một cảnh tượng tuyệt đẹp với một lâu đài kỳ diệu đầy những vị trì thủ-trí tuệ giác ngộ. Đó là một cõi tịnh độ cực lạc. Ở đó Denma gặp một lama như sự dẫn dắt của ông. Vị lama nói:

Con trai, con đã tịnh hóa [nghiệp che ám] bảy lần.

Người may mắn, đừng bị sao lãng. Hãy nhìn vào bản chất của tánh giác tuyệt đối.

Trong một lúc Denma kinh nghiệm cái thấy của năm gia đình Phật và những cõi tịnh độ của các Ngài. Cái thấy đó được theo sau bởi năm vị Phật xuất hiện như Pháp Vương và những Tử Thần.
Ông rơi vào ảo giác nhiều lần. Trong một lúc ông thấy dân làng không chắc rằng ông đã chết hay chưa. Ông thấy một tháp pha lê, mà thật ra là thân ông được bao bằng áo choàng. Người ta đi nhiễu quanh tháp pha lê. Như kết quả của việc họ than khóc, ông cảm thấy những trận bão máu và mủ rơi xuống ông.

Denma thấy hai bộ vòng tròn hình quả cầu, mỗi bộ có năm vòng, mỗi vòng có màu ánh sáng khác nhau. Một bộ chứa năm vòng tròn lớn, và bộ kia chứa năm vòng nhỏ. Chúng là ngũ trí nguyên sơ. Sự nhận biết thật tánh của năm cảm xúc.

Sau đó, Denma đấu tranh để biết ông đã chết hay chưa. Cuối cùng ông đi đến kết luận rằng mình đã chết do thấy những dấu hiệu sau. Ông có thể di chuyển qua lỗ kim và qua những lỗ rất nhỏ trong lều. Tại bờ sông bước chân của ông không để lại dấu vết. Thân ông chẳng có cái bóng nào phản chiếu trong nước, hay dưới bóng mặt trời, mặt trăng. Thậm chí dù đang đói, chẳng ai quan tâm phục vụ ông. Tiếp cận người thân và gọi tên họ mà không ai đáp lại. Khi nhìn vào mặt mọi người, dường như bị mờ đi giống như có bức mạng che lại. Ông thấy mẹ ông đang chảy nước mắt, đây là điều bất thường với cá tính của bà, và bà khóc lớn, “Bây giờ tôi muốn chết.”

Nhận ra mình đã chết, buồn bã và sợ hãi, Denma cầu nguyện đến Đức Phật của Lòng Bi. Lập tức Đức Phật của Lòng Bi xuất hiện phía trước ông và ban cho ông giáo lý chi tiết và ban phước.
Tuy nhiên, tâm Denma bị sao lãng bởi những ảo tưởng phàm tục, và ông gặp nhiều chướng ngại trên chuyến hành trình. Ông cảm thấy chính mình bị dồn đẩy bởi một cơn bão nghiệp lực. Ông nghe tiếng gầm của những dã thú giận dữ. Nhưng cuối cùng ông có thể nhớ lại những điều này là năng lực biểu hiện của tánh Không.

Kế tiếp, ông thấy ánh sáng trắng và đỏ chận đường. Từ phía sau chạy đến một trận mưa vũ khí. Khi nhớ lại chúng là ảo giác, chúng chỉ là năng lực-tự bản thân của tánh giác nội tại ông.

Kế tiếp ông thấy mình đi theo một con đường núi chật hẹp, cao, và dốc và những tảng đá đỏ lăn xuống liên tục. Bên dưới, ông thấy một dòng sông cuồn cuộn mang những tảng đá trôi đi. Ông đi dọc theo đường núi và thỉnh thoảng bám lấy những bụi cỏ. Nhiều người bị rớt xuống sông và ông có thể nghe tiếng họ kêu khóc. Một lần nữa, khi nghĩ về bản chất trống rỗng của mọi thứ, những hình tướng đáng sợ này an định lại.

Kế tiếp, ông cảm thấy bị giam trong một vùng đất hoàn toàn tối đen đầy những thú dữ. Ông nghe một giọng nói, “Đừng bị sao lãng! Đây là cõi súc sinh.” Ông hát OM MANI PADME HUNG. Đột nhiên không gian tràn đầy tập hội chư Phật và lama chào đón ông. Như thể toàn bộ môi trường đang rung lên với âm thanh cầu nguyện.

Sau đó, ông kinh nghiệm những bám luyến về bạn bè và những sở hữu trong cõi người sống. Vào lúc đó, ông nghe giọng nói của Đức Phật Lòng Bi, “Đây là lúc chết. Không bạn bè hay của cải có thể giúp con. Đó là những biểu lộ của bản tánh rỗng không. Hãy nhìn vào tánh rỗng không này đừng để tâm con bị sao lãng.” Khi nghe được điều này, mọi bám luyến của Denma tiêu tan.

Một lần nữa, ông cảm thấy mình đi qua một lối đi chật hẹp, nhiều đá, đầy dẫy những lửa, nước cuồn cuộn trôi, và bão tố. Ông đi tới đỉnh con đường, nhưng vì những trận bão nên không thể đi lên hay lui lại. Ông đi vào một ngôi đền, ở đó ông thấy nhiều người, gồm những người biết ông lúc ông còn sống. Một số hạnh phúc và đang thụ hưởng cuộc sống họ, số khác thì đói khát và đau khổ. Nhiều người đang ca hát và người khác thì than khóc. Vì một số họ được đem đến đây do sự nhầm lẫn từ cõi người bởi những sứ giả của Tử Thần, họ chờ cho đến khi thọ mạng cạn kiệt trước khi họ có thể tiếp tục tái sanh mới. Những người khác đến sớm vì kiếp sống của họ bị cắt ngắn do tai nạn đột ngột. Cũng có nhiều người cố bám trụ hay mắc kẹt ở đây thay vì đi đến nơi kế tiếp của họ, do họ bám luyến đến kiếp người. Người giàu cố bám trụ ở đây vì bám luyến vào tài sản của họ. Những người yêu thương bám ở đây vì bám luyến vào những người họ yêu thương. Những người cầm quyền trụ ở đây vì bám luyến vào luật lệ và phẩm cấp của họ. Người nghèo bám ở đây vì bám luyến lều bạt, bát ăn xin của họ. Người sân hận trụ ở đây vì muốn báo thù kẻ địch. Những người khác chờ ở đây vì đợi những người thân và bạn bè trong cõi người tạo công đức và hồi hướng cho họ trong những lễ kỷ niệm họ chết, để cải thiện hướng tới chuyến hành trình của cái chết. Những người này là những người không có nghiệp tốt hay xấu mạnh để đẩy họ nhanh chóng tới nơi đến của họ.

Sau đó Denma cảm thấy ông vươn tới đỉnh của Ngọn Núi Đường Đèo Phủ Cát của cái chết, được trang trí với những đống sọ người và đầu súc vật. Ông nghe được những giọng nói biểu lộ ý muốn trả thù từ tất cả đống đầu này. Từ đó ông thấy phía trước là Cánh Đồng Chết kinh khủng bao la. Kế tiếp, ông cảm thấy mình đang rời bỏ Thế Giới người Sống lại đàng sau. Bị nghẹn thở với nỗi đau đớn và choáng, với sợ hãi và buồn phiền, như thể tim và phổi ông rớt xuống đất. Một lần nữa, ông nghe một giọng nói từ một nơi xa xôi, “Hãy nhìn vào thật tánh không sao lãng.”

Kế tiếp, Denma cảm thấy ông đi qua Cánh Đồng Chết Nhiều Màu, một cánh đồng cát với những con bão cát quất mạnh. Nó đầy dẫy những hình ảnh khủng khiếp và âm thanh đau đớn. Từ phía sau, ông cảm thấy bị đẩy tới phía trước bởi cơn bão nghiệp. Bên phải ông thấy bóng tối. Bên trái, ông thấy ánh sáng trắng. Một lần nữa ông nghe giọng nói của Đức Phật Lòng Bi, “Đấy là Cánh Đồng Chết nhiều Màu. Chúng sanh ở đây chịu đau khổ như kết quả của sự trộm, cướp.”
Sau đó ông cảm thấy mình băng qua Dòng Sông Đỏ Khiếp Đảm của Cái Chết, dồn dập với những cơn sóng sấm chớp. Nó có sáu cây cầu đáng sợ. Hai bên sông dầy đặc những sinh linh. Họ được lệnh của những Tử Thần và trong tay họ có mọi loại vũ khí. Một lần nữa, ông nghe giọng nói của Đức Phật Lòng Bi, “Con trai, đừng sao lãng, hãy thiền định về bản tâm.” Lập tức ông bay qua bên kia sông như một chim đại bàng.

Trên bờ sông bên kia ông thấy Awa Đầu-Bò, vị lãnh đạo các trợ lý của Pháp Vương của những Tử Thần, Ngài đang ngồi trên một ngai bằng những sọ người và đầu súc vật ở giữa tập thể những người hành hình. Họ có thân người và đầu của nhiều loại thú khác nhau, toàn bộ bao quanh nhiều chúng sanh. Nhiều người hoảng sợ và kêu khóc hay bị hành hạ. Những người khác lại hoan hỷ và di chuyển vòng quanh bằng những phương tiện kỳ diệu.

Cuối cùng Denma tới một cung điện làm bằng vật liệu quý báu đặt ở giữa một vầng ánh sáng hào quang trong đó nhiều Bổn Tôn xuất hiện. Ông nghe âm nhạc được chư thiên biểu diễn. Vị Pháp Vương của những Tử Thần đang ngồi trên ngai được đỡ bởi một con voi, một con ngựa, một con công, Vị Vua có bốn đầu và bốn tay trong*và một shang-shang.[11] trang phục của Báo Thân. Trong hai tay thứ nhất đang cầm một gương và bản ghi chép. Hai tay ở dưới trong tư thế Định ấn cầm Bánh Xe Luân Hồi. Ngài được bao quanh bởi nhiều Tử Thần khác nhau với thân người và đầu súc vật.

Sau đó Pháp Vương hỏi Denma về cuộc đời và việc làm của ông. Đưa ra một mô tả vắn tắt, ông ca bài ca vô úy:

OM MANI PADME HUNG!

Tôi là một yogi đã hoàn toàn nhận ra trạng thái bất nhị.

Không còn sợ hãi kẻ thù, những kẻ thù của bám chấp nhị nguyên.

Tôi là một yogi đã hoàn toàn nhận ra bản tánh tối thượng vô biên.

Không còn sợ hãi kẻ thù, những kẻ thù của vũ khí xuất hiện từ rỗng không.

Tôi là một yogi đã hoàn toàn nhận ra trí tuệ thành tựu tự nhiên.

Không còn sợ hãi kẻ thù, những kẻ thù của những Tử Thần tạo ra bởi năm cảm xúc độc hại của tôi.

Tôi là một yogi đã thoát khỏi mọi đam mê của hy vọng và nghi ngờ.

Không còn sợ hãi kẻ thù, những kẻ thù của Tử Thần.

Tôi là một yogi đã hoàn toàn nhận ra thật tánh.

Không còn sợ hãi kẻ thù, những kẻ thù của hình tướng ảo huyễn trong bardo.

Vào lúc đó, Awa Đầu-Bò đâm kiếm vào Denma. Nhưng lưỡi kiếm đi xuyên qua Denma lại không gây thương tích như thể đâm vào bầu trời. Ngạc nhiên, tất cả Tử Thần ca tụng ông, nói: “Ha! Ha!”

Pháp Vương cũng tán thán Denma, “Người xuất sắc này đang nói sự thật.”

Sau đó Denma đi qua nhiều cõi địa ngục khác nhau để làm vơi bớt những đau khổ của chúng sanh và sau đó trở lại thân, đem những thông điệp đến những người của cõi người.

VIẾNG THĂM MƯỜI TÁM CÕI ĐỊA NGỤC:

KINH NGHIỆM CỦA TAGLA KONCHOG GYALTSEN

Khi Tagla Konchog Gyaltsen kinh nghiệm tách khỏi thân xác mình, ông thấy toàn bộ không gian ở hướng tây được bao phủ bởi những đám mây đỏ nhạt. Vị Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng nói, “Những chỗ không có mây, đó là cơn bão của Ngọn Núi Đường Đèo Sa Mạc Đỏ chia cắt Thế giới của người Sống khỏi Thế giới của người Chết. Con băng qua nó dễ dàng nhờ năng lực tâm linh của chính con.” Tagla cầu khẩn năng lực ban phước của chư Phật và các lama để dễ dàng băng qua đường đèo. Trong chốc lát, một tấm thảm ánh sáng trắng trải rộng từ hướng nam đến chỗ ông. Trên nó, ông thấy Đức Phật Lòng Bi và thân tướng phẫn nộ của Đức Guru Rinpoche với tập hội Bổn Tôn. Bổn Tôn Phẫn Nộ đập đường đèo qua núi bằng một lá cờ cầu nguyện ba lần. và đường đèo vỡ tan tận gốc.

Một lần nữa, Tagla thấy lửa che phủ bầu trời. Trái đất ngập tràn máu chảy và sắt nóng chảy. Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng nói, “Đây là Dòng Sông Nâu Ồ Aït Không Thể Vượt Qua của cái Chết.” Tagla cầu khẩn những Bổn Tôn bảo vệ và lama. Đột nhiên ông nghe từ hướng nam một âm thanh lớn như tiếng sấm. Ở đó ông thấy Đức Phật của Lòng Bi – sáng rực như ngọn núi tuyết được tiếp xúc bởi ánh sáng của hàng ngàn mặt trời – giữa một vầng hào quanh ánh sáng cầu vồng với một trận mưa hoa nhiều màu khác nhau. Tagla thấy ông đi trên một chiếc thuyền cùng với nhiều người trẻ đang cầm những lá cờ cầu nguyện và hát OM MANI PADME HUNG. Lập tức ông vượt qua bên kia sông một cách hoan hỷ. Tagla cảm thấy Đức Phật Lòng Bi, Guru Rinpoche, những lá cờ cầu nguyện, và những lama đều bất khả phân. Nhờ chứng kiến những năng lực kỳ lạ như vậy, thân và tâm Tagla tràn ngập niềm sùng kính vô biên.

Một lần nữa, Tagla bị đẩy về phía trước bởi nghiệp lực đến một cánh đồng bao la bị che phủ bởi bóng tối. Bóng tối này bị ngắt quãng bởi những tia chớp và tia lửa đỏ. Đây là Cánh Đồng Xám Bao La của cái Chết. Như khai thị của Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng, Tagla thực hiện cầu nguyện để có thể vượt qua cánh đồng một cách dễ dàng. Ông quan sát thấy một yogi khổ hạnh vĩ đại được hộ tống bởi tập thể tu sĩ và những người tu khổ hạnh cầm những lá cờ cầu nguyện lớn trong tay, đang hát OM MANI PADME HUNG. Đi theo họ, Tagla nhanh chóng vượt qua cánh đồng.
Sau đó Tagla cảm thấy ông ở bên ngoài bức tường khổng lồ, kỳ lạ của cõi địa ngục. Pema Dechen, vị thầy chính của Tagla, được hộ tống bởi nhiều vị lama trong tướng tu sĩ và hành giả (ascetic), xuất hiện phía trước ông. Họ đang quay bánh xe cầu nguyện trong tay phải và cầm cờ cầu nguyện to lớn trong tay trái. Cả hai Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng và Hắc Quỷ đều biến mất.

Pema Dechen nói với Tagla, “Con phải thấy những cõi địa ngục để có thể diễn tả chúng cho mọi người khi con trở về Thế Giới Người Sống. Điều đó sẽ giúp người ta hiểu về và tin tưởng vào sự hiện hữu của những cõi địa ngục, và có cảm hứng để đi theo Giáo Pháp. Tuy nhiên, con không thể du hành đến địa ngục mà không dựa vào năng lực của Ta. Hãy cầu nguyện Đức Phật Lòng Bi và đi theo Ta.”

Được thầy dẫn dắt, Tagla thăm mười tám cõi địa ngục khác nhau, rất nhiều chúng sanh bị hành hạ bởi mọi kiểu đau khổ. Những đau khổ này là hậu quả của cảm xúc tiêu cực và hành động gây hại mà họ đã vi phạm trong lúc còn sống.

Về mười tám địa ngục, cái đầu tiên là những hỏa ngục:

1. Trong địa ngục sống lại, trên nền sắt nóng bỏng, chúng sanh liên tục giết lẫn nhau do sân hận, sau đó sống lại chịu đau khổ vô tận như vậy.

2. Trong địa ngục vạch đen, trên nền nóng bỏng, những người hành hình vạch lên thân chúng sanh và cưa họ thành từng mảnh với những lưỡi cưa bỏng cháy, lập đi lập lại nhiều lần.

3. Trong địa ngục xay nghiền, chúng sanh bị bỏ vào cối sắt khổng lồ bằng sắt nóng bỏng và bị giã bằng búa cháy bỏng nhiều lần.

4. Trong địa ngục gào thét, chúng sanh bị bao trong hai bức tường lửa mãnh liệt, la hét và kêu gào liên tục.

5. Trong địa ngục đại gào thét, chúng sanh bị bao bên trong hai bức tường lửa mãnh liệt gào khóc liên tục với đau khổ to lớn.

6. Trong địa ngục nóng, chúng sanh bị nấu trong nước đồng sôi.

7. Trong địa ngục nóng mãnh liệt, chúng sanh bị thiêu đốt trong nhà bằng sắt và bị đâm bằng chĩa ba nóng bỏng, rồi đậy lại bằng những miếng sắt nóng.

8. Trong địa ngục đau khổ tột bậc, chúng sanh bị thiêu đốt trong một núi sắt cháy rực, và đồng sôi chảy rót vào miệng họ. Chỉ có những âm thanh la khóc đau đớn là có thể nhận thức, vì người ta không thể thấy những chúng sanh giữa những ngọn lửa đỏ cháy rực.

Kế tiếp có tám địa ngục lạnh, mà tên gọi được đưa ra vì cách khủng khiếp mà chúng sanh bị trần truồng phải chịu đựng trong đó: (1) địa ngục lạnh phồng dộp, (2) địa ngục tràn ngập phồng dộp, (3) địa ngục lạnh run lập cập, (4) địa ngục than khóc, (5) địa ngục gào khóc, (6) địa [12] (7) cõi*ngục như hoa utpala làm rạn nứt thân thể, địa ngục làm rạn nứt như hoa sen, (8) địa ngục rạn nứt như hoa sen khổng lồ. Cũng có hai loại địa ngục phụ: (1) trong những địa ngục lân cận, chúng sanh rơi vào những hố than hồng nóng bỏng hay đầm lầy dơ bẩn, đi bộ qua những cánh đồng lưỡi dao hay rừng gươm, và bị đâm bằng những vũ khí sắc bén của Ngọn Đồi Cây Sắt, và bị chim kên kên, đàn ông hay đàn bà ăn thịt. (2) Trong địa ngục phù du, chúng sanh tái sanh vào đó bị giam giữ trong nhiều chỗ khác nhau, như đá tảng, cột đá, tường, thậm chí cả đồ đạc trong nhà trong một thời gian dài.

Trong mỗi cõi địa ngục, Pema Dechen thấy nguyên nhân gây đau khổ của mỗi chúng sanh và có thể giải thích cho Tagla. Ngài cũng giải thích mỗi chúng sanh phải chịu đựng trong bao lâu và những nỗ lực gì có thể giúp được họ. Cho đến khi nghiệp tiêu cực sống trong địa ngục của họ cạn kiệt, chúng sanh bị đau khổ sẽ không chết vì đau đớn, bởi vì đau khổ là một phần trong cuộc sống của chúng sanh dưới địa ngục, không được chấm dứt.

Do năng lực của Đức Phật Lòng Bi và lama, nhiều chúng sanh có thể nhớ lại kiếp trước trên thế gian của họ. Được Tagla khuyến khích, nhiều người gửi thư kể về hoàn cảnh đau đớn nhất của họ cho gia đình, và van nài những người thương họ làm một số hành động đạo đức để thay đổi chu trình nghiệp cho cả hai người sống và người chết.

Trong mô tả delog của ông, Tagla đã đưa ra tên của nhiều người ở phía Đông Tây Tạng, đang bị đau khổ trong những cõi địa ngục khác nhau. Ông mô tả sự đau khổ của họ và những gì họ gửi thư về cho người thân. Đôi lúc Tagla không thấy người đưa thư tín mà chỉ nghe tiếng kêu khóc của họ gọi ông.

Chẳng hạn, một nhóm chúng sanh ở địa ngục nói, “Làm ơn đưa thư này cho thân quyến của chúng tôi. Xin hãy liên lạc với người thật sự tín ngưỡng. Xin hãy cho thực phẩm và vật chất tới người và thú vật đói khát, nghèo túng. Xin hãy chạm khắc OM MANI PADME HUNG lên đá và in trên vải, treo chúng lên như những lá cờ cầu nguyện. Xin hãy mua mạng sống của súc vật từ những đồ tể. Xin hãy cúng dường lửa-thực phẩm và cúng dường nước (chutor, Ch’u gTor) cho những chúng sanh đau khổ của cõi tinh linh. Xin hãy cúng dường ánh sáng đến chư Phật và xây dựng bánh xe cầu nguyện. Xin hãy nói OM MANI PADME HUNG bất cứ khi nào nghe được tên hay nhớ tới chúng tôi.”

Sau đó Ngài Tendzin Dargye, một vị thầy khác của Tagla xuất hiện và nói, “Bây giờ con nên đi đến phiên tòa của vị Pháp Vương của những Tử Thần.” Vào lúc đó Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng và Hắc Quỷ xuất hiện lại bên cạnh và mỗi vị cầm một tay ông. Họ dẫn ông qua một cổng sắt lớn được bảo vệ bởi những con thú khủng khiếp. Bên trong, Tagla thấy Vị Pháp Vương của những Tử Thần trong một khối cầu lửa khổng lồ. Ngài có nước da xậm, với bốn mặt và hai tay. Tay phải vung một đá phiến. Trong tay trái cầm một thòng lọng đen. Đứng trên một con trâu dữ tợn, nhìn vào Ngài là khiếp sợ. Hộ tống Ngài là hàng trăm ngàn Tử Thần, bao gồm Awa Đầu-Bò, người giữ bàn cân; và Thanh Niên Đầu-Khỉ, người giữ bản ghi chép. Tất cả họ đều la như sấm HUNG! HUNG! PHAT! PHAT!

Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng và Hắc Quỷ trình diện Tagla cho Pháp Vương và hướng dẫn ông kể về những việc làm trong đời cho Pháp Vương. Tagla liệt kê mọi hành động thiện đã thực hiện. Pháp Vương nói, “Loài người các ngươi nói dối khéo lắm. Ai biết được ngươi đang nói sự thật hay không?”

Theo hướng dẫn của Pháp Vương, Awa Đầu-Bò kiểm tra hành động của Tagla qua gương, trong đó những việc làm của mỗi chúng sanh xuất hiện rõ ràng. Vị Gây Hại Đầu-Rắn kiểm tra việc làm bằng việc đem cân. Vị Thanh Niên Đầu-Khỉ kiểm tra bằng việc đọc những liệt kê trong bản ghi chép. Tất cả họ đều hỗ trợ khẳng định của Tagla.

Vào lúc đó, Hắc Quỷ đứng dậy và la lớn, “Ha! Ha! Ta nghi ngờ kết quả tìm được của các vị”, ông ta mở túi chứa những hòn sỏi tượng trưng cho hành động xấu của Tagla. Nhưng chỉ có tám hòn sỏi đen rớt ra. Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng la lớn Ha! Ha! sau đó, biện hộ cho kết quả tìm kiếm và đưa ra khỏi túi một núi sỏi trắng như bằng chứng cho hành động đạo đức của Tagla.

Vào lúc đó, Tagla thấy Pháp Vương xuất hiện trong thân tướng đẹp đẽ của Đức Phật Lòng Bi. Tám vị Tử Thần lãnh đạo của phiên tòa xuất hiện như tám Bồ Tát.

Từ bên phải của Pháp Vương, một dải ánh sáng trắng trải rộng đến phương tây. Pháp Vương nói, “Bằng con đường ánh sáng này, con có thể đi đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Nhưng thay vì vậy, con phải trở lại cõi người như sứ giả của Ta để phục vụ mọi người.” Pháp Vương thuyết phục Tagla trở về cõi người để nói cho người ta biết những gì ông thấy trong bardo và đem những thư mà những người trong địa ngục đã gửi cho ông. Tagla không muốn trở về vì tuổi già, nhưng cuối cùng ông bằng lòng.

Đột nhiên ông thấy một tháp trắng phủ tuyết và hòa nhập vào nó. Tháp này thật ra là thân ông. Ngay khi nhận thức điều này, thế giới trở nên sống động với ông. Dần dần ông hồi phục bệnh tật chết người và trở lại bình thường.

Tagla đã phục vụ nhiều người bằng giáo lý và dẫn dắt cầu nguyện, thiền định trong nhiều năm. Sau đó, vào một lễ cưới của họ hàng ông, khi nghe tin một ngàn năm trăm con vật bị giết thịt cho dịp đó, với lòng buồn phiền to lớn, ông viên tịch đột ngột. Đây là thời gian ông không trở lại nữa.

SAO LÃNG TRONG ẢO TƯỞNG:

KINH NGHIỆM CỦA DAGPO TRASHI NAMGYAL

Bản mô tả của Dagpo Trashi Namgyal minh họa một cách sống động về việc làm sao tâm thức của người ta được tập trung vào sự thay đổi đột ngột và nhanh chóng trong bardo.

Dagpo thực hiện một thiền định phowa cho chính ông và chuyển di tâm thức qua lỗ mở đỉnh đầu. Ở đó ông thấy ánh sáng như che phủ được mở ra. Ông đạt tới một cõi tịnh độ cực lạc. Trong cõi tịnh độ ông thấy chư Phật, dakini, và lama. Ông thụ hưởng thực phẩm và nước uống chữa lành, âm nhạc du dương và những vũ điệu hoan hỷ.

Trong cõi tịnh độ, ông gặp một lama là Bổn Tôn bảo vệ của ông. Vị lama yêu cầu ông hỏi, và Dagpo đáp ứng. Nhưng đột nhiên tâm Dagpo bị sao lãng và ông thấy một đường đèo của một ngọn núi cao không thể tưởng với những cờ cầu nguyện trên đỉnh. Ông thấy một cánh đồng khổng lồ, và bên dưới là một dòng sông nâu xậm to lớn đang chảy xiết. Bên trên sông có sáu cây cầu, và bờ bên kia là một thành phố lớn.

Một lần nữa ông cảm thấy đang nói với vị lama bảo vệ. Nhưng tâm ông bị sao lãng, và ông bắt đầu thấy những hình tướng ảo ảnh của đau khổ trong địa ngục.

Ông trở lại với cảm giác mình đang nói với lama bảo vệ của ông, nhưng một lần nữa tâm ông bị sao lãng. Ông bắt đầu thấy những Tử Thần đang dẫn nhiều người vào địa ngục.

Nhiều lần, khi ông thảo luận Giáo Pháp, nhận thức ông đột ngột thay đổi không kiểm soát thành những hình tướng ảo ảnh. Kinh nghiệm của ông mô tả rằng chúng ta phải thiết lập thói quen ổn định trong dòng tâm thức mình lúc còn sống.

Cuối cùng, Dagpo ở trong phiên tòa của Pháp Vương. Chỉ những hình dạng chính của những Tử Thần, vị lama bảo vệ nói, “Con không thể che dấu những việc làm xấu đã phạm. Luật lệ của Pháp Vương của những Tử Thần rất nghiêm khắc. Trong số những Tử Thần, Awa Đầu-Bò khéo léo trong việc tính đếm. Vị Đầu-Sư Tử khéo léo trong ghi chép. Thanh Niên Mặt-Khỉ khéo léo trong việc đọc trong gương. Vị Đầu-Cọp khéo léo trong việc cân hành động trên bàn cân. Vị Đầu-Báo khéo léo trong việc đọc ghi chép. Vị Đầu-Gấu khéo léo trong việc xác định những gì là một hành động thiện và những gì là một việc làm ác. Vị Đầu-Gấu Nâu khéo léo trong vũ khí. Sự khéo léo đáng kinh ngạc này của những Tử Thần ở chỗ phân biệt những gì là đạo đức và những gì không là một hành động đạo đức.”

Vị lama bảo vệ tiếp tục, “Con trai, con phải theo dõi bản chất của giác tánh nội tại không bị sao lãng. Tất cả chúng sanh lạc lối trong luân hồi do bị sao lãng khỏi thật tánh. Vì những chúng sanh vô minh của luân hồi, đau khổ không kết thúc. Chư Phật có nhận biết thanh tịnh và thấy mọi sự như một cõi tịnh độ cực lạc. Chúng sanh có nhận thức bất tịnh và thấy sự vật như nền sắt nóng bỏng của cõi địa ngục. Hiện tượng thế gian là thói quen tinh thần nhận thức ảo tưởng của chính chúng ta. Những nhận thức này làm họ thấy mọi sự như cõi tịnh độ sẽ không gặp những Tử Thần, mà trái lại sẽ thấy chư Phật, vì trong thật tánh của những Tử Thần là chư Phật.”

Sau đó Pháp Vương cho hướng dẫn đến Tử Thần Đầu-Gấu, “Hãy cho vị yogi này thấy kinh nghiệm chi tiết của những cõi địa ngục. Ông ta nên được phái trở lại Thế Giới Người Sống.”

Kế tiếp Tử Thần Đầu-Gấu bảo Dagpo, “Đừng để tâm bị sao lãng, hãy trụ trong trạng thái rộng mở, dó là bản chất của tánh giác nội tại của tâm ngươi, hãy theo Ta.” Tử Thần dẫn Dagpo quanh những cõi đau khổ không thể tưởng của địa ngục và những cõi phụ khác. Sau đó đem Dagpo trở lại phiên tòa.

Pháp Vương nói với Dagpo, “Ngươi phải hiểu rằng tất cả giáo là để rèn luyện*lý đã ban trong Kinh, Luật, Luận[13] tâm. Nhận ra bản tâm, tánh giác nội tại bất sinh. Buông xả bình đẳng trong rộng mở bất tận. An trụ vững vàng bằng việc buông lỏng trong trạng thái của những gì như nó là.”

Pháp Vương ra lệnh cho ba Tử Thần đem Dagpo trở lại Thế Giới Người Sống. Vị lama bảo vệ giải thích, “Ta là một hóa thân của Phật Avalokiteshvara.” Vị Awa Đầu-Bò nói, “Ta là một hóa thân của Phật Vajrasattva.” Thanh Niên Đầu-Khỉ nói, “Ta là một hoá thân của Phật Ratnasambhava.” La Sát Đầu-Heo nói, “Ta là một hóa thân của Phật Vô Lượng Quang.” Tất cả họ đều nói, “Bây giờ ngươi trở về thân ngươi, đó là mandala của chư Phật.”

Sau sáu ngày du hành qua những cõi địa ngục, Dagpo cảm thấy như thể mới thức dậy sau giấc ngủ. Vị lama bảo vệ và những Tử Thần đã biến mất. Ông thấy mình trong động thiền định cũ, ở đó tăng, ni, và những người thường đang chăm sóc thân ông. Ông cố nhìn quanh nhưng không thể thấy bất cứ thứ gì. Phải mất một thời gian sau thân ông mới mạnh khỏe trở lại.

BĂNG QUA CÁNH ĐỒNG CHẾT:

KINH NGHIỆM CỦA GYALWA YUNGTRUNG

Yungtrung là một người theo đạo Bon, tôn giáo bản địa của Tây Tạng. Chuyện kể delog này cho chúng ta thấy sự cầu nguyện chân thành của bất kỳ niềm tin nào cũng sẽ có lợi ích vào lúc chết. Yungtrung đã quay về đạo Phật, nên ông chứng kiến những Phật tử cũng như những vị thầy và Bổn Tôn của đạo Bon giải thoát chúng sanh trong bardo. Giống như những Phật tử mật tông cũng chứng kiến phiên tòa của Pháp Vương một cách thú vị như một phần của sự đánh thức con đường tín ngưỡng và mục tiêu sâu xa. Với ông, phiên tòa không chỉ là một nơi xét xử quyết định người ta tái sanh vào đâu. Nếu người ta nhận ra nó như vậy, nó là một tỉnh thức tâm linh của tánh giác nội tại, thật tánh của tâm.

Sau khi ra khỏi thân, Yungtrul đột nhiên cảm thấy ông đang bay như chim, vượt qua nhiều thung lũng và núi non. Ông thấy con đường đèo của một ngọn núi cao trang trí bằng một đống xương người và thú vật. Tất cả chúng gây tiếng động ồn ào. Đột nhiên Đức Bà Linh Thiêng, là Bổn Tôn bảo vệ của ông xuất hiện trong một trang phục bằng vải với ba lông công gắn trên đầu. Bà nói, “Ha! Ha! Ta không chắc ngươi sẽ thấy mẹ ngươi.” Tuy nhiên, bà cho ông một lời khuyên phù hợp với việc băng qua con đường đèo và thấy một ngã rẽ của ba con đường. Con đường rẽ màu đỏ đi đến phía tây và màu xanh dương đến phía đông. Con đường nhiều màu ở giữa đi đến phiên tòa của vị Pháp Vương, nền tảng từ đó ngươi sẽ đạt giải thoát hay lạc vào luân hồi. Yungtrung chọn con đường giữa, nhiều màu như một con rắn, ông đi vội vã.

Con đường trở nên thật chật hẹp như thể ngọn núi và những tảng đá ở hai bên sườn núi sắp chạm vào nhau. Một lần nữa, Yungtrung thấy hai con đường hẹp như một sợi tóc. Bên tay phải là con đường trắng, tay trái là con đường đen. Nhiều người cố gắng chạy theo con đường này và bị rơi xuống.

Yungtrung chọn con đường trắng, nhưng nó bị nghẽn hoàn toàn. Sau đó một lama đạo Bon trang phục như người thường với mái tóc dài xuống, dẫn khoảng một trăm người đến giải thoát. Vị lama nói Yungtrung, “Con đường trắng là con đường dành cho những người làm việc vì lợi ích của chúng sanh. Con đường đen dành chung cho mọi người, và nó dẫn đến nơi ở của Pháp Vương.”

Sau đó Yungtrung thấy ông ở của một hang động. Hang có một lỗ nhỏ, chỉ vừa với nắm tay ông. Mọi con đường đều dẫn đến hang động này, và không có lối ra. Ông nghĩ, “Bây giờ mình không có thân vật chất. Ý thức có thể đi qua bất cứ thứ gì.” Ông lập lại thông điệp này lớn tiếng ba lần cho đám đông. Đột nhiên ông thấy mình ở bên kia cửa đá.

Ông đang đứng trong một cánh đồng xám khổng lồ, từ đây ông không thể thấy núi hay thung lũng. Ông nghĩ, “Cánh đồng này bao la, nhưng băng qua nó thì chắc chắn phải được, vì ta là rỗng không.” Lập tức ông thấy mình ở bên kia cánh đồng.

Ở đó, có ba dòng sông cuồng nộ, khủng khiếp đang hòa nhập. Dòng dông đỏ xuất phát từ hướng đông. Dòng dông đen xuất phát từ hướng nam. Dòng sông nâu gặp hai sông kia tại hướng bắc. Chỉ có một cây cầu dài và hẹp bắc qua dòng sông hội nhập khổng lồ này. Gần cây cầu nhiều đàn ông và phụ nữ đang kêu khóc vì phải vượt qua sông nhưng không thể được. Với lòng bi, ông bảo họ, “Tất cả các người hãy cầu nguyện với tôi. Tôi sẽ làm một cầu nguyện cho các bạn.” Tất cả họ đều lắng nghe ông với biểu hiện tôn kính. Với lòng sùng kính mạnh mẽ, Yungtrung cầu nguyện những vị thầy của cả hai dòng truyền đạo Phật và Bon:

HRI! Con cầu nguyện đến vị Tổ vĩ đại Tranpa Namkha

Con cầu nguyện đến Tổ Tshewang Rigdzin.

Con cầu nguyện đến Tổ Padmasambhava.

Con cầu nguyện đến Montul Tenpa Wangyal.

Con quý báu*cầu nguyện đến Lama Gốc[14] 

Xin hãy dẫn dắt ý thức của người chết đến giải thoát.

Xin ban ân phước cho họ và làm tan biến nỗi sợ hãi trong bardo.

Xin ban phước cho chúng con thành tựu thực hành chuyển di tâm thức của phowa.

Xin ban phước cho chúng con đạt được kết quả cực lạc của con đường giải thoát.

Và ông trầm tư trong trạng thái thiền định thoát khỏi khái niệm. Như kết quả của thiền định, mọi người hiện diện đều được tái sanh vào những cõi hạnh phúc.

Vào lúc đó Bổn Tôn bảo vệ của ông xuất hiện lần nữa. Ông thấy một lâu đài khổng lồ trong mờ. Cao như thể chạm đến bầu trời. Ông hỏi Đức Bà, “Lâu đài này tên gì? Ai sống trong đó?” bà nói, “Đây là sự đại hợp nhất của hình tướng và tánh Không, lâu đài của những Tử Thần. Vị Pháp Vương của cái Chết ở trong đó. Vào lúc này, Pháp Vương có thái độ an bình. Tốt nhất chúng ta nên nhanh chóng gặp Ngài.”

Yungtrung nghe một âm thanh lạ lùng đầy cả bầu trời và đất. Thoạt tiên ông hoảng sợ, nhưng sau đó ông tự nhủ, “Mọi âm thanh đều là tánh âm thanh của giác tánh nội tại. Ánh sáng là ánh sáng của tánh giác nội tại. Những tia sáng đều là tia sáng của giác tánh nội tại. Chẳng có gì phải sợ hãi cả.” Với niềm tin được phục hồi, ông đi tiếp.

Trong Lâu Đài của cái Chết có một ngai lớn làm bằng vật liệu quý. Được đỡ bằng tám con thú hùng mạnh khác nhau. Ngồi trên ngai là một người đàn ông với nước da hơi đỏ, to lớn như Núi Tu Di. Ngài nửa phẫn nộ nửa hiền minh, có ba mắt và bốn răng nanh, mái tóc hơi đỏ bồng bềnh quanh đầu Ngài như ngọn lửa đang cháy. Ngài mặt áo choàng bằng da thú, đội mão bằng xương và chuỗi hột cũng bằng xương. Trong tay phải Ngài cầm một vương trượng với dấu ấn của và trong tay trái cầm một gương như mặt½chữ svatika,[15] trăng tròn, trong đó Ngài có thể thấy mọi hiện tượng của thế gian. Ngài gầm lên một âm thanh HUNG làm tam giới run rẩy. Yungtrung tin chắc người khổng lồ này là vị Pháp Vương của những Tử Thần.

Yungtrung đảnh lễ ba lần và nói, “Ôi Pháp Vương của sự Chết, con là Latri Lama Gyalwa Yungtrung của Kham. Mẹ con tên là Adron giờ ở đâu?”

Thay vì trả lời trực tiếp, Pháp Vương nói, “Ha! Ha! Ngươi đến đây để giải thoát cho những bà mẹ-chúng sanh trong tam giới bị đày xuống đây vì những hành động sai lầm. Bây giờ với năng lực của ngươi, ngươi phải giải thoát tất cả những ai có mối kết nối với ngươi. Nếu ngươi không thể, Ta sẽ xấu hổ cho ngươi.”

Vào lúc đó, Yungtrung thấy một ông lão đạo Bonpo đến. Ông đi với một người có màu da trắng mặc áo choàng trắng, và một người có nước da đen mặc áo choàng đen. Người màu trắng bảo vệ cho ông lão, trình ra một túi đầy những hòn sỏi trắng tượng trưng cho việc làm thiện của ông lão. Người mặc áo đen đưa ra một túi đầy những hòn sỏi đen và tranh cãi chống lại ông lão. Sau đó Pháp Vương ra lệnh Tử Thần Đầu-Khỉ và Đầu-Sư Tử đem cân việc làm của ông lão. Hành động đạo đức của ông lão nặng hơn một chút. Tử Thần Đầu-Khỉ kiểm tra gương và chỉ thấy ánh sáng. Sau đó Pháp Vương nói với người đàn ông, “Ngươi đã thực hành nhiều việc làm đạo đức to lớn. Nhưng điều quan trọng hơn là ngươi vẫn duy trì được nhận thức thanh tịnh và tôn kính vị lama của ngươi. Do vậy, ngươi có thể *đi đến Shambala.”[16] 

Nhiều người bắt đầu vượt qua xét xử của Pháp Vương. Những lama vẫn giữ lời hứa và giải thoát nhiều người trong số họ.

Yungtrung đã đi thăm nhiều nơi và tụng niệm cầu nguyện. Nhiều đau khổ của những cõi địa ngục biến mất ngay khi ông hét lên âm PHAT! trong khi thể nhập vào thiền định không bám chấp.
Sau khi viếng thăm những cõi địa ngục, ông trở về lâu đài. Pháp Vương ra lệnh cho Tử Thần Đầu-Khỉ dẫn ông đi. Ông không tìm thấy mẹ của ông.

Trên đường trở lại, ông gặp hai lama bị kẹt dưới cầu. Khi còn ở cõi người, một người trong họ đã thực hiện pháp trục quỷ không đúng mục đích, và người kia cho phép mình hưởng quỹ dành cho mục đích tôn giáo. Nhưng vì họ có niềm tin nơi Phật giáo, Yungtrung cầu nguyện đến chư Phật và các lama dòng truyền với lòng sùng kính mạnh mẽ và thực hiện thiền định phowa. Như một kết quả, cả hai lama được giải thoát khỏi nơi đó.

Sau đó Yungtrung qua cầu, băng qua Cánh Đồng Chết và đi dọc theo con đường hẹp, và đường đèo của sự chết. Ông về đến nhà khi mặt trời vừa mọc trên đỉnh núi.

Sau đó Yungtrul có kinh nghiệm delog lần thứ hai, ông vượt qua con đường vào bardo bằng phương tiện của năng lực thiền định, suy nghiệm về sự hợp nhất của giác tánh và tánh Không, giống như ông đã làm trong chuyến hành trình delog thứ nhất. Thời gian này là chuyến đi đến cõi người và A tu la.

Đột nhiên một dakini xinh đẹp xuất hiện phía trước ông. Yungtrung cầu nguyện đến bà để bà nhận tìm dùm mẹ ông. Vị dakini không trả lời mà biến thành một chim đại bàng bay vào bầu trời. Nhận ra mình không có thân thô nặng Yungtrung cũng biến thành chim đại bàng, chỉ bằng ước muốn ông bay càng lúc càng cao hơn, theo sau vị dakini. Sau đó, tới hướng bắc của đỉnh Núi Tu Di, họ đáp xuống một vùng đất đầy hoa. Trong một lều hoa, ở đó, ông thấy một vị thánh.
Vị dakini bảo, “Hãy đến đây.” Có một bông hoa, thấp hơn bông khác, vừa nở ra. Trong đó là ba đứa bé. Chỉ vào một trong chúng, vị dakini nói, “Cậu bé này là mẹ ngươi. Ngươi có thể nhận ra không?” Đứa bé nhận ra Yungtrung và nói, “Apho, tại sao con đến đây?”. Mẹ ông, trong tái sanh mới là bé trai, không nhớ gia đình hay nhà cửa kiếp trước, mà lại nhận ra con trai. Sau đó, theo lời khuyên của dakini, họ đi đến vị thánh. Vị dakini yêu cầu vị thánh ban giáo lý cho mẹ Yungtrung trong thân tái sanh mới. Vị thánh chấp thuận lời thỉnh cầu.

Sau đó vị dakini dẫn Yungtrung đến cõi thiên. Sau khi ban những tiên tri, bà bay về Oddiyana. Yungtrung thấy mình trong thân, ở tại nơi cư trú của ông.

ĐƯỢC TỊNH HÓA BẰNG DÒNG CAM LỒ:

KINH NGHIỆM CỦA SAMTEN CHOTSO

Trước tiên Samten Chotso đi thăm cõi địa ngục với sự giúp đỡ của Yeshe Tsogyal, vị phối ngẫu của Guru Rinpoche. Thông thường, trước tiên những delog đi đến phiên tòa của Pháp Vương, nhưng Samten và một số người khác lại đi thăm những cõi địa ngục trước. Cuối cùng Samten đến phiên tòa của Pháp Vương. Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng và Hắc Quỷ tranh cãi chống lại bà. Tử Thần kiểm tra gương. Họ thấy bà đã giết nhiều côn trùng và chim muông, bị ràng buộc bởi lời thề. Nên lập tức bị đánh trên một cánh đồng nóng bỏng và bị nước đồng sôi đổ lên người. Bà nhớ đến Guru Rinpoche và cầu nguyện Ngài. Như một kết quả, Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng dẫn bà đến vị Pháp Vương. Mặc dù bà nghĩ kinh nghiệm này đã kéo dài một năm, nhưng Pháp Vương nói với bà rằng nó chỉ kéo dài trong thời gian uống một tách trà.

Sau đó Pháp Vương yêu cầu Tử Thần kiểm tra bàn cân, và hành động công đức của Samten chứng tỏ nặng nhiều hơn hành động bất thiện. Cuối cùng Pháp Vương ra lệnh hai Tử Thần dẫn bà về cõi người. Ngài khuyên Samten hãy thực hành Giáo Pháp và giúp đỡ mọi người. Sau đó Ngài thêm, “Từ giờ trở đi, con không cần phải đến đây. Con có thể đi đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc.”
Trên đường, Samten thấy Mẹ Yeshe Tsogyal đã yêu cầu về chuyến hành trình của bà. Trên đường trở lại, Ngài cho Samten thấy cõi tịnh độ của năm vị Phật được làm bằng ánh sáng ngũ sắc ở bên trên và trong bốn phương.

Samten khẩn cầu Yeshe Tsogyal dẫn bà đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc. Cưỡi trên một con sư tử, Yeshe Tsogyal dẫn Samten cưỡi trên một con la trắng. Họ đến đỉnh một ngọn núi ở hướng tây. Từ đó có thể thấy rõ ràng cõi Tịnh Độ cực lạc. Với lòng đại hoan hỷ, Samten đảnh lễ ba lần. Con sư tử và con la biến mất. Đột nhiên, mặt đất nơi họ đứng trở nên mềm mại. Mỗi bước chân bà đi là một bông hoa nở. Bà được tắm trong một cơn mưa cam lồ và được uống nước cam lồ chảy xuống. Mọi nghiệp bất tịnh và xấu ác đều được tịnh hóa. Thân bà trở nên trắng như được làm bằng vỏ sò. Bà băng qua một thung lũng chỉ với một bước chân. Cuối cùng bà đến một vùng đất thanh tịnh kỳ lạ với những cây, trái, hoa, những trang hoàng đẹp đẽ, và những vật liệu quý báu. Chư Bồ Tát trong thân tướng chim muông đang hót. Bất cứ những gì Samten ước muốn đều tự phát xuất hiện.

Trong ba bước, Samten băng qua ba lớp tường. Bà đến trước Đức Phật Vô Lượng Quang, Ngài đang ngồi dưới gốc một cây to lớn đẹp đẽ kỳ lạ. Bên phải Đức Phật Vô Lượng Quang là Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) và bên trái Ngài là Vajrapani (Kim Cương Thủ). Mỗi vị đều ở giữa hàng trăm triệu bồ tát và tu sĩ. Rất nhiều Bồ tát và chư Phật nam, nữ khác nhau ở mọi nơi, ở giữa những đệ tử như biển của các Ngài. Cũng có mọi loại Bổn Tôn, bao gồm Guru Rinpoche, trong tướng phẫn nộ. Bà cũng thấy vô số lama của nhiều dòng truyền khác nhau.

Vi delog này không kể bà trở lại thân như thế nào.

ĐỪNG CHÁN NẢN: KINH NGHIỆM CỦA

CHANGCHUB SENG-GE

Changchub muốn về nhà, lập tức ông thấy mình ở trong nhà của cha mẹ. Ông sang hàng xóm xin thực phẩm và hỏi thăm, nhưng không ai trả lời hoặc thậm chí nhìn đến ông. Ông nghĩ mọi người giận mình.

Một cô gái trẻ đang xách nước. Ông xin một ít nước, nhưng cô ta không nói một câu. Khi cố gắng lấy một ít nước trong bình của cô, nó tuột khỏi tay cô và bể ra nhiều mảnh. Ông nắm đuôi một con ngựa, và con ngựa ngã xuống. Một phụ nữ đang xe chỉ và bà ta không trả lời ông, khi ông cố chạm sợi len, nó như bị một cơn bão thổi bay đi và bà ta chạy theo nó. Điều đó làm Changchub lo nghĩ nhiều hơn vì ông nhớ lại dân gian có nói, “Những tinh linh, dù vô hình, vẫn có thể làm vật chất chuyển động.”

Sau đó ông suy nghĩ: “Bây giờ mình nên đến tu viện.” Trên đường, một con chó đuổi theo sủa ông. Một phụ nữ mắng con chó, “Con chó chết tiệt, bộ mày sủa ma quỷ hả!” Nghĩ rằng bà ta gọi mình là quỷ, Changchub bắt bẻ, “Bà cho tôi thấy vị thần nào mà không là quỷ!” Bà ta không nghe thấy ông. Kế đó ông đến tu viện. Ông thấy một xác chết ở phía ông được hai con chó săn to lớn đáng sợ canh chừng. Changchub rất sợ. Suy nghĩ xảy ra với ông, “Có thể mình chết rồi!”

Vào lúc đó, ông thấy mình ở bên kia sườn của một ngọn núi to lớn, ở trong vùng đất tối tăm bị dồn đẩy từ phía sau bởi cơn bão nghiệp. Những Tử Thần đang la hét như hàng ngàn tiếng sấm, nền sắt nóng bỏng làm cháy xém chân ông. Vô số chúng sanh có nghiệp xấu tất cả đều bị nhồi nhét chung quanh.

Quá sợ hãi, Changchub cầu nguyện Đức Avalokiteshvara. Ngay sau đó, ông thấy một đứa bé tám tuổi với nước da trắng, trang phục bằng lụa với trang điểm bằng châu ngọc. Ngài ngồi trên hoa sen, mặt trời và một ngai mặt trăng. Ban ân phước, Ngài cam đoan với Changchub rằng cả hai đã có mối nối kết trong nhiều kiếp. Đây là Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng của Changchub, nên ông cầu nguyện Ngài.

Changchub đi thăm nhiều địa ngục. Sau đó ông đến nơi ở của Pháp Vương của những Tử Thần. Trong một cung điện khổng lồ, vị Pháp Vương ngự trên một hoa sen, mặt trăng, và đệm mặt trời trên một ngai bằng vật liệu quý, được đỡ bởi tám con thú và chim. Phần thân trên của Ngài trang phục bằng lụa trắng và ngọc quý, phần thân dưới mặc quần da cọp với một con rắn đen làm thắt lưng. Những tia sáng từ thân Ngài chiếu ra rực rỡ làm lóa mắt khi nhìn vào. Mắt Pháp Vương đỏ như máu. Ngài cầm trong tay một ngọn lửa và nước. Phía bên phải Ngài là một gương sáng, và bên trái là đá phiến. Chung quanh Ngài có khoảng một ngàn Tử Thần. Tất cả họ đều tương đồng với Pháp Vương. Phía trước Ngài tụ tập vô số chúng sanh nhiều như những hạt cát của một con sông, và vô số Tử Thần đang quyết định số phận của họ.

Pháp Vương gửi Changchub đi thăm nhiều cõi ngạ quỷ, súc sanh, cõi người, và a tu la (bán thiên). Sau đó, qua Changchub Pháp Vương gửi thông điệp cho chúng sanh của Thế Giới Sống, “Hãy tin tưởng Tam Bảo, phát triển thái độ giác ngộ, cúng dường, tiếp nhận giáo lý và trao truyền, nhất là tụng niệm OM MANI PADME HUNG, đây là tinh hoa của Giáo Pháp.”

Changchub hỏi Pháp Vương, “Tất cả chúng sanh khi họ chết đều phải gặp Ngài?” Pháp Vương đáp, “Không ai trong cõi người khi chết mà không gặp Ta, ngoại trừ hai loại người. Người đã cam kết với Giáo Pháp từ lúc mới sinh sẽ đi thẳng đến cõi Tịnh Độ Cực Lạc ngay khi tâm họ tách khỏi thân. Họ sẽ không cần gặp Ta. Những người phạm những hành động xấu từ lúc sinh sẽ đi thẳng xuống địa ngục, họ sẽ không có cơ hội gặp được Ta.”

Changchub hỏi lần nữa, “Có hành động đạo đức nào không có lợi ích, hoặc có hành động xấu nào không gây hại?” Pháp Vương đáp, “Có, ngay cả khi ngươi sử dụng của cải cho những kế hoạch đạo đức, nếu lấy chúng bằng cách lừa gạt vị kim cương sư hay cha mẹ, từ những vị khổ hạnh bằng vũ lực, hoặc từ bất kỳ người khác dưới dạng thuế, thì sẽ không tính là một việc đạo đức. Chống lại kẻ thù của vị thầy và Giáo Pháp sẽ không tính là một hành động xấu. Nếu, với ý định bảo vệ kẻ yếu, hay người không được bảo vệ, chống lại những thú dữ, rắn độc, trộm cắp, sát nhân, và những người làm hại người khác, thì đó không phải là bất thiện. Sau đó Pháp Vương nói, “Bây giờ, ngươi không cần phải găïp lại Ta nữa. Ngươi sẽ làm việc to lớn phục vụ cho chúng sanh, và ngươi sẽ đạt Phật quả.”

Và Changchub trở lại cõi người. Ông tới căn lều đã thực hành thiền định nhập thất trước khi có kinh nghiệm delog. Trong nhà mình, ông thấy xác chết một con chó. Một con ruồi đậu trên mõm con chó và đang niệm OM MANI PADME HUNG. Sau đó một con chim bồ câu đậu trên mái nhà và hỏi ông, “Con thương mến, có gì khó khăn không?” và một con chim én hỏi, “Con trai, con đã về đến hả?”

Changchub thấy một mảnh quần áo của ông gần xác con chó. Khi ý tưởng lấy quần áo xảy đến, đột nhiên ông thấy tâm thức mình bị giam vào xác chết con chó, mà thực ra là thân ông. Ông muốn ngồi dậy nhưng không thể được. Thân ông lạnh như một tảng đá trong nước. Ông thật không sung sướng gì vì cảm thấy đau trong ngực. Sau đó ông thấy Đức Avalokiteshvara, Ngài an ủi ông, “Con trai của Ta, đừng chán nản. Con đã có cuộc sống làm người quý báu. Con nên trở lại lều nhập thất thiền định của con.” Sau đó Changchub dần dần lấy lại ý thức.

ĐỊA NGỤC LÀ CÕI TỊNH ĐỘ VÔ SONG

KINH NGHIỆM CỦA TSOPHU DORLO

Bản mô tả delog này là một tác phẩm có ý nghĩa sâu xa, tốt đẹp được viết theo nguyên bản Tây Tạng.

Tsophu Dorlo trần truồng rời khỏi thân, nhưng ông vẫn sở hữu mọi giác quan giống như còn sống. Ông bắt đầu cuộc hành trình dọc theo con đường xám, dài và hẹp trong bardo. Ông đi vội vã, bị thúc đẩy bởi lực của gió nghiệp, và không được tự do để an trụ bất động. Không gian tối tăm, không có ánh sáng mặt trời hay mặt trăng, đầy dẫy những bão tố, lũ lụt, và bão tuyết, và dội lại những tiếng la như sấm, “Giết! Giết! Đánh! Đánh!”

Nhiều người từ cõi người đã đến đây và bị hành hạ bởi sợ hãi, rối loạn, đói, và khát. Trong số họ có một lama, Chotrag Zangpo mà Dorlo từng biết. Ông hỏi, “Lama, Ngài làm gì ở đây?” vị lama đáp, “ Tôi ở đây để giải thoát một số người có nghiệp kết nối với tôi.” Ngài đã giải thoát nhiều người qua năng lực của Avalokiteshvara, Đức Phật của Lòng Bi.

Dorlo cầu nguyện đến Đức Phật Lòng Bi cho những bạn đồng hành đau khổ của ông. Lập tức, Đức Avalokiteshvara xuất hiện phía trước ông với diện mạo mỉm cười hoan hỷ và nói, “Con phải quay bánh xe vĩ đại làm chuyển ngược sinh tử. Con phải dẫn dắt chúng sanh của bardo đến cõi tịnh độ.” Vậy, hãy hát OM MANI PADME HUNG, Dorlo ban giáo lý cho lập tức*những chúng sanh và nói bài nguyện mong ước[17]. ông thấy cõi bardo đã trống rỗng. Nhưng sau đó, trong chốc lát đã đầy dẫy những người mới đến.

Kế tiếp, Dorlo đến Cánh Đồng Xám của cái Chết là một cánh đồng cát nóng. Đây là cánh đồng của sáu bất định: những chúng sanh không chắc về nơi đi hay ở, cư trú nơi đâu, làm gì, ăn gì, đi cùng với ai và không chắc về cảm giác của họ vì mọi sự luôn thay đổi.

Vì Dorlo không có kinh mạch vật chất, năng lượng của ông phơi bày và không thể kiểm soát được ý thức. Nên tâm ông chạy như ngựa hoang. Vì không có mặt trời và mặt trăng bên trong của tinh chất trắng và đỏ, nên ông không cảm thấy có ánh sáng mặt trời hay mặt trăng ở bên ngoài, và mọi sự đều tối tăm. Ánh sáng của năm khí của thân ông xuất hiện như ánh bình minh. Những tia sáng không thể chịu nổi vẫn chớp lóe, như thể những hành tinh và ngôi sao đáp xuống đất. Trong một không gian của bóng tối và ánh sáng như vậy, những thói quen tinh thần của ông phóng chiếu những hình tướng đáng sợ, những quái vật nguy hiểm.

Bên cạnh rất nhiều người, Dorlo còn thấy một lama đang đau khổ. Dorlo cầu nguyện và quay bánh xe cầu nguyện của ông, nhưng vì vị lama không tin nơi ông, nên Dorlo không thể giúp được.
Sau đó Dorlo đến Đường Đèo Cát của ngọn Núi giữa sự Sống và Chết. Ông thấy hai con đường. Con đường tối cho những người đã phạm những hành động xấu ác nghiêm trọng. Người trên đường này chỉ trượt xuống như những tảng đá lăn thẳng xuống nền sắt nóng bỏng của địa ngục. Con đường kia màu trắng dành cho những người đã tích lũy những hành động thiện. Bằng con đường này, người ta đến phiên tòa của Pháp Vương để xét xử. Từ đó họ có thể đi đến cõi tịnh độ qua con đường của ánh sáng ngũ sắc.

Dorlo thấy Zhagsar Trashi, mà ông biết từ trước, đang bị đau khổ dữ dội. Trashi cầu xin Dorlo cầu nguyện dùm. Nên Dorlo cầu nguyện và quay bánh xe của ông. Mặc dù Trashi đã phạm nhiều hành động xấu, nhưng vì có niềm tin nơi Dorlo và có nghiệp nối kết trong quá khứ, nên ông ta đã được giải thoát khỏi nơi đó.

Sau đó Dorlo đến Dòng Sông Nâu To Lớn Không Thể Vượt Qua của cái Chết. Đó là một dòng sông khổng lồ với nước đồng sôi chảy nóng bỏng, đầy dẫy mọi loại chúng sanh đồi bại – sự phản chiếu của việc xây dựng thói quen nghiệp của họ.

Bắc qua sông là cây Cầu Sắt Của Sự Chết. Một số người đã làm việc thiện thấy nó như một cây cầu rộng, đi qua dễ dàng, họ không chú ý bất cứ những gì đe dọa dưới dòng sông. Nhưng với số lớn người đã làm việc xấu lại kinh nghiệm cây cầu thật chật hẹp dường như chỉ làm bằng vài cộng rơm. Họ bị những Tử Thần xua đuổi phải băng qua cầu. Nhiều người bị rớt xuống sông chịu đau khổ vì bị thiêu đốt và bị những sinh vật sống ở đó cắn. Dorlo niệm cầu nguyện và quay bánh xe cầu nguyện, hành động này của ông đã giải thoát được một số người.

Sau đó Dorlo đến cõi địa ngục. Đó là một vùng đất có nền sắt nóng bỏng, giữa những ngọn lửa cao nghe được những tiếng kêu gào, la khóc. Đây là một nơi khi nhìn thấy sẽ không thể chịu nổi. Quay bánh xe cầu nguyện, Dorlo lập nguyện và mong ước. Ông công bố giáo lý mình:

Hãy nhận ra khái niệm ảo tưởng của các bạn [như chúng là].

Thì cõi địa ngục là cõi Tịnh Độ Vô Song.

Vị Pháp Vương là thân của chân lý phổ quát [pháp thân].

Tùy tùng của Ngài, những Tử Thần, là những Bổn Tôn hiền minh và phẫn nộ.

Cầu mong các bạn đạt được thật tánh, như nó là.

Ông niệm ba lần OM MANI PADME HUNG. Đột nhiên địa ngục tràn đầy ánh sáng cầu vồng. Tất cả chúng sanh được kinh nghiệm cảm giác hoan hỷ và an bình.

Kế tiếp, khoảng một trăm vị hành hình được dẫn đầu bởi những Tử Thần và Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng đến để chào đón Dorlo với âm nhạc và cúng dường. Dorlo đi vào phiên tòa của Pháp Vương, theo sau khoảng một ngàn người chết. Pháp Vương tán thán, “Ngươi đến đây thật tốt làm sao! Nếu có thể nhận ra được thì Ta là thân của chân lý phổ quát, Pháp thân, nếu không nhận ra được, thì Ta là Pháp Vương của những Tử Thần, người quyết định ai làm điều thiện và ai làm điều ác. Chúng sanh với thù hận thì đi xuống địa ngục, người bám luyến thì đến cõi ngạ quỷ, người ngu dốt đến cõi súc sanh, người ganh tị đến cõi a tu la, người kiêu mạn đến cõi thiên. Người có hành động đạo đức pha lẫn với năm cảm xúc phiền não thì đến cõi người. Những người thực hiện hành động đạo đức thanh tịnh thì không phải chịu đựng trong bardo hoặc trong địa ngục. Họ sẽ đi thẳng đến cõi tịnh độ như Cõi Tịnh Độ Cực Lạc ngay sau khi chết, như chim đại bàng bay qua bầu trời.”

Vị Pháp Vương ban lệnh cho những Tử Thần, “Ta thấy trên bàn cân có hàng trăm ngàn người mới chết. Vậy hãy xem họ làm thiện hay làm ác. Hãy xem hành động của họ trong gương toàn-hiện. Tham khảo sổ sách để phô bày chi tiết. Cân hành động của họ đó là công bằng. Hãy lắng nghe âm thanh của trống chiến thắng. Và đừng tạo bất cứ sai lầm nào.

Những vị hành hình thỉnh cầu chính Pháp Vương nhìn vào gương, vì những chi tiết nghiệp của chúng sanh rất khó xác định. Vào lúc đó, Pháp Vương ra lệnh Bổn Tôn Bảo Vệ và Hắc Quỷ trình bày cẩn thận trường hợp của mỗi người.

Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng biện hộ cho những người đi theo Dorlo. Ngài thu thập một núi sỏi để tiêu biểu cho hành động thiện mỗi người trong họ đã tích lũy. Sau đó, Hắc Quỷ tranh cãi chống lại họ và chất đống một núi sỏi đen để biểu tượng cho những hành động bất thiện mà họ đã làm. Dựa căn bản trên sự phát hiện này, Pháp Vương gửi những người có hành động đạo đức đến cõi tịnh độ hoặc đến cõi người, và những người làm việc bất thiện bị đày xuống cõi thấp.

Sau đó Pháp Vương hướng dẫn Awa Đầu-Bò dẫn Dorlo đi xem hai cõi địa ngục lạnh và nóng. Dorlo đi qua tám cõi hỏa ngục. Ở mỗi nơi, ông đều cầu nguyện đến Dức Phật của Lòng Bi và hát OM MANI PADME HUNG, và thiền định về “sự trao đổi và trong cách này ông*giữa mình với người khác.”[18] đã giải thoát nhiều người. Dorlo đã gặp nhiều người từ cõi người, một số người ông biết và một số người thì không, nhưng tất cả họ đều gửi thư cho gia đình, cầu xin gia đình làm một số hoạt động Giáo Pháp và hồi hướng công đức cho tên của họ.

Nhiều vị lama và chư Phật đã đến những cõi địa ngục và giải thoát chúng sanh bằng việc ban giáo lý và ban phước.

Sau đó Dorlo trở lại vị Pháp Vương, Ngài ra lệnh cho ông trở về cõi người. Ngài nói, “Hãy mô tả sự đau khổ của những cõi địa ngục cho mọi người. Hãy thực hành việc làm đạo đức và từ bỏ hành động bất thiện. Hãy ban giáo lý. Ngươi sẽ làm nhiều lợi ích to lớn. Trong đời sau, ngươi sẽ đi thẳng đến cõi tịnh độ thiên đường và làm lợi ích nhiều hơn nữa.”

Bây giờ Dorlo cảm thấy ông đang trở về cõi người dọc theo con đường ánh sáng với sự đưa tiễn của Bổn Tôn Bảo Vệ Trắng bằng âm nhạc và hương thơm khắp nơi.

Dorlo cảm thấy mệt lả trong một lúc. Ông thấy Đức Guru Rinpoche quán đảnh trường thọ cho ông và ban những tiên tri truyền cảm hứng. Cuối cùng Dorlo thức dậy thấy mình trong thân người và mọi người vây quanh.

THÂN TƯỚNG BẤT KHẢ PHÂN VỚI TRÍ TUỆ:

KINH NGHIỆM CỦA DAWA DROLMA

Dawa Drolma du hành đến một số cõi tịnh độ và địa ngục. Trong tóm tắt này, tôi đưa ra nhiều chú ý về những kinh nghiệm của bà trong cõi tịnh độ của Đức Guru Rinpoche, vì những cõi địa ngục đã được mô tả đầy đủ trong những truyện kể khác.

Sự Biểu Lộ Cõi Tịnh Độ Của Đức Guru Rinpoche 

Dawa Drolma cảm thấy bà đi qua bầu trời, vụt lên cao như chim kên kên. Bà thấy chính mình trong cõi biểu hiện tịnh độ của Đức Guru Rinpoche, vị Phật trong thân tướng một bậc thầy giác ngộ. Có vô số cánh đồng bao la. Trong trung tâm, bà thấy một núi đá đỏ khổng lồ. Ngọn núi đó được bao quanh bởi những rặng núi như lưỡi kiếm, tất cả đều tỏa ánh sáng màu hồng nhạt. Bầu trời được trang điểm bằng một vòm ánh sáng cầu vồng ngũ sắc. Mọi loại chim đẹp đẽ đang hót và chơi đùa vui vẻ. Mặt đất được được bao phủ mọi loại hoa nhiều màu sắc. Toàn bộ không gian tràn đầy hương thơm nhẹ nhàng làm mọi giác quan của bà choáng ngợp. Cũng có một ngọn núi màu xanh dương như thể làm bằng ngọc bích. Không có những hình tường mờ ảo, mà là những hình ảnh sống động hiện diện thực sự.

Tara Trắng là vị Bổn Tôn Bảo Vệ của Dawa Drolma. Bà cầu nguyện đến Guru Rinpoche bằng việc tụng niệm Bài Nguyện Kim Cương Bảy Dòng và thiền định về Guru Yoga.

Bà thực hiện đảnh lễ và cúng dường đến cõi tịnh dộ.

Giữa ngọn núi, bà thấy cung điện phi thường của Guru Rinpoche được gọi là Liên Hoa Quang. Cung điện là trí tuệ giác ngộ của Guru Rinpoche, xuất hiện tự nhiên trong hình tướng của một lâu đài ánh sáng quang minh. Lâu đài trong dạng cấu trúc sang trọng nhất làm bằng năm vật liệu quý và trang hoàng với rất nhiều dấu hiệu phong phú. Mỗi chi tiết biểu hiện và dạy một phẩm tính và trí tuệ đặc biệt của Phật tánh. Cõi tịnh độ này đầy những vị thầy giác ngộ, dakini, và daka.

Tại cổng phía đông của cung điện, bốn dakini giúp Dawa Drolma thay quần áo mới đầy màu sắc và tỏa ánh sáng như cầu vồng. Sau khi đi vào cổng pha lê hùng vĩ, bà leo lên một dãy bậc thang dài. Sau đó, trong một căn phòng rộng lớn, bà kết hợp với những lama, dakini trong việc thực hiện nghi lễ đại cúng dường. Bà tụng niệm bài nguyện tịnh hóa cùng với các Ngài. Kế tiếp một dakini với nước da xanh hộ tống bà đến một lâu đài rộng lớn, cung điện chánh trong vô số cung điện, ở đó bà tham gia trong một nghi lễ tịnh hóa cùng tắm với những vị khác.

Dawa Drolma được cho thấy quanh cung điện kỳ diệu này và cũng được đến những nơi khác của quần thể cung điện. Tại những cung điện khác nhau này, bà được chào đón và ban phước bởi những vị thầy trong thân tướng chư thiên rực rỡ, năng lực tâm linh tỏa sáng choáng ngợp. Một số các vị là thầy của bà trong quá khứ, như Yeshe Tsogyal, công chúa Mandarava, Legyi Wangmp-che, Khyentse Wangpo, và nhiều vị dakini. Bà bày tỏ lòng tôn kính đến các Ngài và cầu nguyện sùng kính chân thành.

Dưới Chân Của Đức Guru Rinpoche 

Được hộ tống bởi Tara Trắng, Dawa Drolma đi vào một cung điện khác đẹp đẽ phi thường, như thể được làm bằng pha lê đỏ. Đó là một lâu đài mênh mông thật bao la và cao sừng sững vượt khỏi bất cứ sự tưởng tượng nào. Vô số đồ trang sức được trang hoàng, tràn đầy sự phong phú, giàu có vô tận và rất nhiều bữa tiệc cúng dường không thể tưởng.

Cuối cùng, ở giữa một căn phòng lớn, Dawa Drolma thấy một ngai khổng lồ, cao, dường như cao hơn một tòa nhà ba tầng. Ánh sáng từ ngai chiếu ra mọi hướng. Trên ngai đó, bà thấy sự hiện diện kỳ diệu của Guru Rinpoche, Padmasambhava, hiện thân của trí tuệ, lòng bi, và năng lực của tất cả các bậc giác ngộ. Chung quanh ngai, bà thấy vô số các vị thầy, dakini trong nhiều thân tướng khác nhau, với màu da, quần áo, cử chỉ, và tư thế khác nhau. Nhìn thấy Guru Rinpoche, mọi khái niệm của bà tự nhiên ngừng lại. Bà đạt được sự chắc chắn trong nhất như với một trạng thái phi thường, không thể diễn tả. Bà an trụ trong trạng thái này một lúc vừa cực lạc vừa đơn độc.

Sau đó Dawa Drolma đến gần ngai và đặt trán vào chân Guru Rinpoche. Guru đặt tay Ngài lên đầu bà ban phước và niệm Bài Nguyện Kim Cương Bảy Dòng.

Khi Drolma đi thăm cõi tịnh độ, rất nhiều vị thầy ban cho bà giáo lý và phúc lành. Bà cũng gặp một đại lama tên là Dechen Dorje, người chú sau của bà. Ông thọ tái sanh vào cõi tịnh độ của Đức Guru Rinpoche. Ông truyền đạt giáo lý, ban phước, và tiên tri cho bà và khuyên bà trở lại cõi người.

Kế tiếp Dawa Drolma được dẫn đến một căn phòng trang bị đồ đạc có sức quyến rũ với giường, gối, và gối ôm, với một người phụ tá đưng gần. Bà ngủ một lúc. Sau khi thức dậy, bà đi gặp Guru Rinpoche lần nữa và niệm Bài Nguyện Kim Cương Bảy Dòng, rồi lập nguyện mong ước. Guru Rinpoche ban quán đảnh và ân phước cho bà. Với lòng đại bi Ngài nói, “Bây giờ, với nhận biết đau khổ của sáu cõi phàm tục, con phải trở lại cõi người. Hãy kể với mọi người những gì con thấy và khẩn nài họ hoạt động đạo đức.”

Dawa Drolma rời khỏi Guru Rinpoche với tấm lòng nặng nề và hai dòng lệ. Trên đường ra, tại những cổng và cung điện, bà chào tạm biệt đến những vị thầy, dakini và nhận sự ban phước của các Ngài.

Những Lời Uyên Thâm Cho Cõi Người

Sau đó Tara Trắng dẫn Dawa Drolma đến những địa ngục. Chuyến hành trình của Dawa Drolma qua kinh nghiệm của bardo. Bà thấy Pháp Vương của những Tử Thần trong thân tướng phẫn nộ và khủng khiếp tại Phiên Tòa Xét Xử. Trong lúc thăm những cõi địa ngục, bà giúp đỡ nhiều chúng sanh đang đau khổ bằng giáo lý, cầu nguyện, và hát mantra của Guru Rinpoche, OM AH HUNG BENZA GURU PADMA SIDDHI HUNG. Bà cũng thấy hậu quả của nghiệp tác động và tính đau khổ khốc liệt của những cõi địa ngục bằng hai mắt trần của bà, nên khi trở về thế giới người sống bà sẽ giảng dạy nhiều hiệu quả hơn. Bà cũng đem về nhiều thư từ của người chết đến người thân của họ trong thế giới người còn sống.

Tara Trắng kế tiếp dẫn Dawa Drolma đến thăm Potala, cõi tịnh độ của Đức Avalokiteshvara, và Yulo Kopa, cõi tịnh độ của Tara, trước khi trở về cõi người.

Khi Dawa Drolma đang thăm cõi tịnh độ của Tara, dột nhiên bà cảm thấy rằng Dharmapala Tseringma đang gọi bà ba lần, “Dawa Drolma! Hãy về cõi người!”. Sau đó một ý tưởng khởi lên, “Rinpoche chú của mình, cha mẹ, và người thân đang ở Thung lũng Throm. Mình phải đi về!” bà trở về với Đức Tara Trắng trong chốc lát.

Tại nhà, Ngài Tromge Trung vị thầy của bà, mở cửa phòng, nơi để thân xác bà và thực hiện nghi lễ trường thọ cho bà. Ngay sau đó, dòng tâm thức Dawa Drolma trở lại thân. Bà mô tả sự nhập lại thân theo cách sau:

Bà cảm thấy thân thể tê dại và những cảm giác khó được rõ ràng. Bà thể nhập trong sự sùng kính đến những bậc giác ngộ, hoan hỷ trong ký ức về cõi tịnh độ, và cảm thấy đau buồn về sự đau khổ của những địa ngục. Từ trạng thái pha trộn như vậy, bà hoàn toàn lấy lại ý thức như thể thức dậy chậm chạp sau một giấc ngủ sâu. Chú của bà, Trungpa đang đứng trước bà, đang cầm một mũi tên của nghi lễ trường thọ và nhìn bà một cách quan tâm với đôi mắt đỏ ngầu. Bà không dám nói một câu, vì cảm thấy một chút lúng túng. Những lama thực hiện nghi thức tịnh hóa. Bạn của bà khóc và hỏi, “Bạn mệt không?” “Đói không?” “Có khát không?” Bà chẳng thấy bất kỳ sự đói hay khát nào, nhưng bà chẳng thể làm họ tin. Cuối cùng, tất cả đều hưởng thụ bữa tiệc nghi lễ cúng dường.

Dawa Drolma đưa những lời khuyên cho mọi người về việc ngăn ngừa bị tái sanh vào những cõi địa ngục, và bảo đảm tái sanh vào cõi tịnh độ. Sau đây là bản tóm tắt thông điệp của bà gửi cho mọi người ở cõi người:

• Hãy tịnh hóa những việc làm xấu đã vi phạm qua thiền định. Kiềm chế không tiếp tục vi phạm nữa.

• Phát triển công đức, tụng niệm kinh điển, sao chép kinh văn, tỏ lòng tôn kính và cúng dường đến những đối tượng thiêng liêng như những hình tượng.

• Thực hiện nghi thức của những Bổn Tôn khác nhau và tụng niệm mantra của các Ngài.

Thực hiện những bữa tiệc cúng dường.

• Cứu giúp người khác khỏi tổn hại, chuộc mạng sống những súc vật sắp bị giết thịt.

• Giương cờ cầu nguyện lên, chạm khắc mantra lên đá, xoay bánh xe cầu nguyện, và tuân thủ nghi lễ nhịn ăn. Phát triển và duy trì lòng sùng kính đến chư Phật và Giáo Pháp.

• Phát triển lòng bi cho tất cả chúng sanh.

• Đặc biệt, tuân thủ và hoàn thiện ba nhận thức thanh tịnh: thấy mọi sự đều là cõi Phật tịnh độ, nghe mọi âm thanh đều thiêng liêng, và kinh nghiệm mọi cảm giác (vật chất, tinh thần, và những cảm xúc) như trí tuệ-Phật, an bình, hoan hỷ tối thượng, và toàn giác.

• Cuối cùng, hãy hồi hướng mọi công đức của hành động thiện của bạn cho riêng cá nhân mình cũng như cho tất cả chúng sanh.

Dawa Drolma dùng phần còn lại của cuộc đời bà giảng dạy Giáo Pháp dựa trên những kinh nghiệm delog và hoàn toàn dâng hiến cuộc sống bà để phục vụ người khác. Bà cũng nói với người hay phàn nàn rằng, “Bất chấp cuộc sống của bạn có khó khăn ra sao trong cõi người này, chẳng thể nào so sánh nổi với đau khổ trong những cõi địa ngục.”

Dawa Drolma hành hương đến Trung Tâm Tây Tạng, ở đó bà có con trai đầu lòng, Chagdud Rinpoche, người đã đào thoát đến Ấn Độ, sau đó sang phương Tây. Ông truyền dạy và xây dựng một số trung tâm đạo Phật tại Mỹ và Brazil. Sau đó bà sinh một con gái, Thrinle Wangmo. Năm 1941, vào tuổi 32 bà chết ngay sau khi sinh một người con trai khác, người con này cũng chết. Người ta đã chứng kiến nhiều điều kỳ diệu vào lúc bà chết và lúc hỏa táng. Bà và những mô tả delog đã truyền cảm hứng trong lòng nhiều người ở nhiều phần của phía Đông Tây Tạng tin tưởng vào luật nhân quả và tái sanh. điều đó lần lượt đánh thức bản tánh tử tế hơn, kích thích một nền văn hóa quan tâm lẫn nhau.

HÃY ĐỂ MỌI NGƯỜI ĐƯỢC GIẢI THOÁT:

KINH NGHIỆM CỦA SHUGSEB JETSUN LOCHEN

Shugseb Jetsun Lochen mô tả chuyến viếng thăm cõi tịnh độ tuyệt đẹp của Guru Rinpoche và được dạy rằng những cõi địa ngục chỉ là nhận thức ảo tưởng của tâm.

Chuyến Du Hành Với Vị Dakini Một-Mắt

Tâm Jetsun đã rời bỏ thân. Đột nhiên, một vị dakini rất lôi cuốn, có nước da màu lam ngọc (xanh lam hơi lục), lông mày đẹp, mái tóc buông xõa, xuất hiện như cái thấy bên trong của bà. Vị dakini này chỉ có một mắt ở giữa trán. Ngài hỏi Jetsun, “Con gái, con có muốn đến Núi Quang Vinh Màu Đồng, biểu hiện tịnh độ của Đức Guru Rinpoche hay không?” Jetsun đáp, “Dạ có!”
Nắm lấy tay vị dakini, Jetsun bay nhanh chóng với Ngài qua nhiều vùng đất. Họ băng qua một cánh đồng bao la và vượt qua một con sông rộng lớn. Sau đó họ đi ngang qua một vùng đất có những cây thật cao dường như chạm đến bầu trời. Cuối cùng, họ đến đỉnh một ngọn đèo cao. Mọi điểm địa lý đặc trưng họ đã đi qua là những giới hạn của bardo. Sau đó vị dakini nói, “Hãy nhìn!”

Ở phía xa, Jetsun thấy một châu lục to lớn, đẹp đẽ phi thường, màu hơi đỏ. Một cảm giác kỳ lạ của năng lượng hùng mạnh với sức nóng tràn đầy thân bà. Vị dakini nói với bà:

Ôi, con gái may mắn, hãy nhìn kìa.

Phần chính của vùng đất là châu lục Ngayab siêu phàm.

Là vùng đất đã được chư Phật ba thời ban phước.

Thời xưa, đó là nơi người có lòng xấu (bản ngã) được điều phục.

Do [19] *năng lực ban phước của Vajravarahi,

Những giáo lý kỳ diệu bí mật được nuôi dưỡng ở đó.

Chỉ cần nghe, thấy, và suy nghĩ về vùng đất này,

Có nói rằng, người ta sẽ đạt được giác ngộ.

Vậy, nếu con thật sự đến đó, thì không có vấn đề gì.

Thậm chí con chỉ nhìn với đôi mắt sùng kính,

Con sẽ đạt được kinh nghiệm của cõi tịnh độ.

Vậy hãy đảnh lễ với tâm sùng kính.

Sự sùng kính khởi lên mạnh mẽ bên trong Jetsun. Bà đảnh lễ đến Núi Quang Vinh nhiều lần. Ở đó bà thấy một cung điện to lớn huy hoàng trong thiết kế của một mandala làm bằng những vật liệu quý tỏa sáng. Cung điện thật to lớn và cao tưởng chừng như chạm đến bầu trời. Chung quanh cung điện, bà thấy rất nhiều daka, và dakini đang cúng dường với sự giàu sang và hoan hỷ không thể tưởng. Cung điện này cũng được bao quanh bởi những vườn hoa bao la, đầy dẫy những cây như ý, những bông hoa nhiều màu sắc và những hồ nước đẹp đẽ.

Trên đỉnh của cung điện là cõi tịnh độ của pháp thân, trạng thái của rộng mở tối thượng. Phần giữa là tịnh độ của báo thân, vùng đất của thịnh vượng vô tận. Phần dưới của cung điện là cõi tịnh độ của hóa thân, biểu hiện một cõi tịnh độ mà với đôi mắt sùng kính, người bình thường có thể thưởng thức được. Chỉ nhờ thấy cung điện này, Jetsun kinh nghiệm được trạng thái tự nhiên của chính tâm giác ngộ bà.

Đi Vào Núi Quang Vinh

Vào lúc đó, vị dakini nói, “Bây giờ chúng ta sẽ đến đó.” Khi họ đến Núi Quang Vinh, Jetsun cảm thấy rất nhiều người hiện diện đang theo dõi họ. Trong chốc lát, họ đến một cánh cổng nguy nga nhất được làm bằng những vật liệu quý. Vị dakini gõ cửa cổng. Một phụ nữ nước da hơi đỏ với dáng điệu mạnh mẽ bước ra ngoài và hỏi, “Ngươi là ai?” Vị dakini trả lời,

Người phụ nữ này đến từ Tây Tạng, xứ sở của Giáo Pháp.

Bà là một biểu hiện-tâm của Dakini Ánh Sáng Xanh Dương Rực Rỡ.

Đến đây để thấy vị Thầy Vĩ Đại, hiện thân của tất cả các bậc trì minh.

Nhưng bị xáo trộn bởi dấu vết của nghiệp nhiễm ô.

Xin hãy dẫn dắt để bà không phải đối mặt với bất cứ chướng ngại nào trong chuyến hành trình.
Người phụ nữ nước da hơi đỏ đáp lại, hướng dẫn Jetsun:

Ta chỉ là một dakini hành động của những bữa tiệc.

Không hỏi những Quý Bà bên trong,

Mà nhanh chóng nhận ngươi là không đúng cho Ta.

Con gái, hãy đợi ở đây một lúc.

Người phụ nữ quay lại và đi vào trong, vị dakini theo sau. Chẳng bao lâu sau, năm phụ nữ rất xinh đẹp xuất hiện, trong tay cầm bình. Các Ngài tắm rửa Jetsun với cam lồ tẩy tịnh. Sau đó dẫn bà vào cổng bên trong. Lập tức thân bà choáng ngợp một cảm giác cực lạc.

Tại cổng được trang trí công phu của cung điện, Jetsun gặp một dakini xinh đẹp và cao quý với một chút phẫn nộ. Đột nhiên, tâm Jetsun hòa nhập vào thiền định thể nhập. Bà kinh nghiệm được trạng thái thiền định của địa bồ tát thứ mười. Jetsun lập bài nguyện sùng kính bảy bậc đến vị dakini. Vị dakini này dẫn Jetsun lên mười sáu bậc thang bằng pha lê. Ở đó, Jetsun thấy bà bên trong cung điện. Đó là một không gian rộng lớn bao la, từ đó người ta có thể thấy mọi hiện tượng hiện hữu, không có bất cứ chướng ngại hay che ám nào.

Phía trước Jetsun, là một bức màn lụa trắng với trang trí bằng vàng. Khi bức màn mở ra, bà thấy sự hiện diện thật sự của Guru Rinpoche trong tư thế vương giả trên một ghế hoa sen đăït lên trên một ngai quý báu. Ngài có màu da trắng hơi đỏ, và phóng ra an bình vĩ đại, hoàn toàn rộng mở và năng lực phẫn nộ. Trên đầu Ngài đội một mão như hoa sen trang trí với hình ảnh của mặt trời, mặt trăng, và lông chim đại bàng. Ngài mặc ba áo choàng Giáo Pháp với một áo dài thêu kim tuyến phủ lên trên. Tay phải Ngài cầm một vương trượng vajra, tay trái cầm một chén sọ người, bên trong là bình cam lồ trường thọ. Hào quang của Ngài rực rỡ hơn một trăm ngàn mặt trời. Bà cảm thấy không thể đủ sức nhìn vào Ngài.

Chung quanh Guru Rinpoche, Jetsun thấy tập hội tất cả các vị thầy vĩ đại của quá khứ ở Tây Tạng và Ấn Độ.

Với đôi mắt thương yêu, Guru Rinpoche nhìn Jetsun. Những sợi lông trên thân bà dựng đứng. Khuôn mặt bà đẫm nước mắt của niềm sùng kính và hoan hỷ vô biên không thể kiềm chế. Bà đảnh lễ trước Guru Rinpoche nhiều lần và cầu nguyện vì lợi ích của tất cả bà mẹ-chúng sanh. Guru Rinpoche ban nhiều tiên tri và cung cấp những lời dạy cho bà:

Ô, sự biểu hiện của Dakini Hào Quang Xanh Dương, hãy lắng nghe Ta.

Đây là xứ sở siêu phàm, Núi Màu Đồng Quang Vinh.

Ngoại trừ những nam, nữ có nghiệp tốt,

Người bình thường không thể hưởng thụ được.

Đây là cõi tịnh độ siêu phàm của Ta, bậc Đại Sĩ.

Giữa những vị hiền triết và vị thầy ở đây,

Không ai mà không đạt được những giai đoạn cao của sự thành tựu.

Bất kỳ ai thấy cõi tịnh độ này

Sẽ không bao giờ lạc khỏi con đường giác ngộ.

Vậy hãy phát triển sùng kính và cảm thấy hạnh phúc.

Giờ đây, đừng chần chờ, con phải trở về Tây Tạng.

Hãy là người dẫn đầu giảng dạy về luật nhân quả.

Hãy là bậc thầy giải thích giáo lý Đại Thừa.

Hãy là vương miện châu ngọc của tất cả dakini.

Hãy là tâm yếu, người trì thủ những giáo lý của Ta.

Hãy phục hồi truyền thống của những vị thầy trước.

Bất cứ ai thấy mặt hay nghe lời nói của con

Sẽ đạt giác ngộ. Đây là những lời của Padmasambhava

Ô những bậc trì-minh đang tụ hội ở đây,

Hãy ban ân phước của tâm các vị cho cô.

Sự Ban Phước Của Vị Thầy Vĩ Đại

Vào lúc đó những tia sáng nhiều màu sắc, trắng, đỏ, vàng, và xanh dương, lưu xuất từ ngực tất cả những vị thánh và hòa nhập vào ngực Guru Rinpoche. Được dẫn dắt bởi Guru Rinpoche tất cả vị thánh cùng hát Mantra Guru Vajra: OM AH HUNG VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUNG. Âm thanh này tràn đầy toàn bộ không gian. Sau đó, đặt tay lên đầu Jetsun, Guru Rinpoche nói:

Cầu mong thân, ngữ, và ý của con.

Được ban phước với thân, ngữ, và ý của Ta!

Lập tức, Jetsun cảm thấy một cảm giác kích động toàn thân, và bà bắt đầu run. Bà hát bài nguyện đến Guru Rinpoche với giai điệu du dương nhất, và lập nguyện mong ước cho hạnh phúc của tất cả bà mẹ-chúng sanh. Sau đó, khi từ giã với tấm lòng nặng trĩu, bà nói:

Ôi bậc Thầy Vĩ Đại như Đại Dương-Sinh,

Hiện thân của tất cả chư Phật;

Bậc trì-minh lão luyện của Ấn Độ và Tây Tạng,

Bậc [20] *diễn thuyết về giáo lý của chín thừa,

Đại dương của dakini, những bà mẹ,

Đang hưởng sự quang vinh của cực lạc và hoan hỷ

Trong Cung Điện Núi Quang Vinh Màu Đồng,

Nơi những người may mắn tụ hội!

Con là một hành khất gọi là Lochen

Lang thang đơn độc từ vùng đất đau khổ của Tây Tạng.

Than ơi, đó là kết quả của hành động sai lầm trong quá khứ của con

Để con phải trở về Tây Tạng.

Ôi, các Bậc Vĩ Đại đang tụ hội ở đây!

Các Ngài có thấy nỗi đau khổ của con?

Mọi đau khổ phải chịu của những chúng sanh trong sáu cõi và tam giới,

Cầu mong mọi đau khổ của họ xảy đến trên con, để con mang thay cho họ.

Vào lúc đó, vị dakini đã gặp Jetsun tại cổng đến với bà. Ban phước Jetsun với mũi tên trường thọ, bà nói:

Ô cô gái may mắn, hãy lắng nghe Ta.

Ta là Dakini Hào Quang Xanh Dương Rực Rỡ.

Con và Ta là bất khả phân,

Giống như mặt trăng và sự phản chiếu của mặt trăng trong nước.

Đừng cảm thấy buồn vì trở về lại;

Hãy cám ơn sự ban phước từ ái của Guru Rinpoche,

Con sẽ làm lợi ích cho vô số chúng sanh.

Đặt đầu bà vào chân Guru Rinpoche, Jetsun tiếp nhận bốn quán đảnh từ Ngài. Bà cũng nhận được sự ban phước của những bậc thông tuệ khác. Vị Dakini Hào Quang Xanh Dương Rực Rỡ dẫn bà đến cổng ban phước và tiên tri. Ở đó, một lần nữa Jetsun gặp lại vị dakini một-mắt. Jetsun trở về cùng với Ngài.

Lòng Bi Trong Những Cõi Của Chúng Sanh Bị Đau Khổ

Trong một lúc, Jetsun đến cõi thiên. Nam và nữ ở đó đang thỏa mãn giải trí bằng âm nhạc, nhảy múa, và những hưởng thụ nhục dục khác. Chúng sanh trong cõi bán thiên bị đau khổ vì đánh lẫn nhau. Chúng sanh trong cõi súc sanh đau khổ vì bị nô lệ và ăn thịt lẫn nhau. Những ngạ quỷ đều trong trạng thái đói và khát trầm trọng.

Sau đó Jetsun băng qua một cánh đồng bao la và trèo lên một ngọn đèo cao. Từ đỉnh đèo bà thấy cõi địa ngục đau khổ khủng khiếp, lòng bà chùng xuống tràn đầy thương xót. Bà nghĩ, “Mình nên đi đến đó và van xin vị Pháp Vương của những Tử Thần giải thoát những chúng sanh đang đau khổ này.” Những chúng sanh trong địa ngục trải qua hành hạ bởi những tra tấn không thể chịu nổi trong vô số năm. Họ bị thiêu đốt trong những cánh đồng sắt đỏ lửa. Họ bị cắt ra thành từng mảnh, nghiền nát thành bụi, nướng trong những căn phòng nóng bỏng, bị đâm bằng những dụng cụ cháy rực, và bị nấu bằng nước đồng sôi rót xuống cổ họng họ. Vì hoàn cảnh nghiệp họ không bao giờ chết mà sẽ tỉnh lại nhiều lần cho đến khi nghiệp quả địa ngục của họ cạn kiệt.

Mặt đầy nước mắt, tâm buồn bã, và lòng bi mẫn. Jetsun cầu nguyện. Lập tức, một dakini với Đức Phật Lòng Bi xuất hiện trên đầu bà và ban những hướng dẫn tâm linh. Do vậy, bà cầu nguyện tận đáy lòng. Bà cảm thấy mức độ đau khổ của những chúng sanh được giảm xuống. Tất cả những chúng sanh đang đau khổ nhìn Jetsun, và một số họ thậm chí có thể thọ quy y nơi Tam Bảo. Jetsun hát cho họ những giáo lý sau:

Giờ đây, nếu muốn đạt giải thoát khỏi những đau khổ này,

Hãy thấy vị thầy của bạn, người mà các bạn có lòng tin,

Là hiện thân của tất cả quy y tối thượng: Phật, Pháp, và Tăng.

Hãy cầu nguyện đến Ngài với một tâm sùng kính mạnh mẽ.

Hãy phát triển sự ăn năn những hành động xấu đã phạm trong quá khứ.

Hãy hứa không vi phạm những hành động như vậy nữa.

Hãy mong muốn nhận đau khổ của người khác lên mình.

Hãy thấy những vị canh giữ địa ngục như Đức Phật của Lòng Bi.

Hãy nghe những tiếng la đánh, giết như âm thang của OM MANI PADME HUNG.

Bản chất của đau khổ là rỗng không [trong tinh túy của nó].

Năng lực tự nhiên [của tâm] là sự hiện diện tự nhiên và bất tận.

Mọi hình tướng xuất hiện từ năng lực của rỗng không đều được giải thoát vào rỗng không.

Sự xuất hiện [của sự vật] và sự giải thoát của chúng là không liên tục mà xảy ra cùng lúc.

OM: Hãy quán tưởng thân bạn là thân quang minh rộng mở của Đức Phật Lòng Bi.

MA: Trong nó, hãy quán tưởng kinh mạch trung ương với bốn phẩm tính,

NI: Trong nó, tâm trong dạng quả cầu ánh sáng ngũ sắc.

PAD: Với năng lực của hơi thở cái bình,

ME: Thành trái tim của Đức Phật Vô Lượng Quang,

HUNG: Hãy bắn [quả cầu ánh sáng, tâm bạn] và hòa nhập làm một, và

HRI: Hợp nhất bằng việc lập lại âm PHAT năm lần.

Đây là sự rèn luyện về phowa.

Nó giải thoát tâm thức của chúng sanh bằng sức mạnh, ngay cả với những người có hành động xấu.
Hôm nay Tôi thực hiện phowa cho những chúng sanh ở địa ngục.

Nhờ lòng từ ái của chư lama và dakini,

Cầu mong tất cả các bạn giải thoát khỏi những cõi thấp và đạt được Phật quả.

Vào lúc này, nhiều người được chết và rời khỏi địa ngục.

Năng Lực Giác Tánh Nội Tại Của Chính Bà

Khao khát gặp vị Pháp Vương của những Tử Thần xảy đến với tâm Jetsun. Lập tức, bà cảm thấy một chùm ánh sáng lưu xuất từ đầu của bà. Tại chỗ cuối của ánh sáng, bà thấy một pháo đài sắt to lớn, khủng khiếp. Trong pháo đài, trên một ngai bằng những tử thi, mặt trời, mặt trăng, và hoa sen là vị Đại Pháp Vương. Ngài có thân tướng phẫn nộ, mặc trang phục phẫn nộ, nước da hơi tía xẫm. Ngài ở giữa bão lửa chói lọi và những dòng máu trôi chảy. Ngài cầm trong tay một gương và cân, đang gầm âm thanh phẫn nộ: A-RA-LI. Chung quanh Ngài là vô số tùy tùng của những Tử Thần.

Vào lúc đó, Jetsun cảm nhận rằng vị dakini cùng với bà cho đến giờ đã hợp nhất vào trái tim bà và Đức Phật Lòng Bi tan hòa vào đầu của bà.

Bà tỏ lòng tôn kính đến Pháp Vương và những tùy tùng của Ngài, và tất cả họ dường như lảo đảo. Sau đó bà niệm cầu nguyện, và hình như tất cả họ đều lập lại cùng bài nguyện sau bà. Khi nhắm mắt trong sự tập trung sùng kính, dường như tất cả họ đều theo gương bà. Vào lúc này bà nhận ra rằng mọi hình tướng này chỉ là năng lực biểu hiện của chính tánh giác nội tại của tâm bà.

Vị Pháp Vương thẩm vấn Jetsun, và những người đại diện kiểm tra những hành động quá khứ trong gương, trong bản ghi chép, và với dĩa cân. Thấy rằng bà chỉ có hành động thiện, họ hướng dẫn gởi bà vào con đường giải thoát.

Jetsun nói với họ, “Làm sao tôi có thể đi một mình, rời bỏ tất cả bà mẹ-chúng sanh trong những cõi thấp này? Xin hãy để mọi người được giải thoát.” Vị Pháp Vương trả lời:

Người có biết rằng địa ngục này chỉ là sự phản ánh những đặc tính của chính tâm thức ngươi?

Ta không tạo ra nền sắt nóng bỏng và những ngọn lửa chói lọi của địa ngục.

Chúng là sự sinh ra của sân hận và bám luyến của tâm ngươi.

Mỗi đau khổ trong những cõi địa ngục

Được tạo ra bởi cảm xúc tinh thần chưa giải thoát của chính nó, như sân hận.

Với một tâm giác ngộ, địa ngục là cõi Tịnh Độ Đại Cực Lạc.

Chính chúng tôi là những vị Phật hiền minh và phẫn nộ.

Đau khổ là “sự giải thoát ngay từ lúc khởi lên”.

Trên đường trở về thế gian của ngươi,

Hãy gửi thông điệp cho mọi người: “Luật nhân quả không bao giờ dối gạt.”

Jetsun, tự thân ngươi đã chứng kiến.

Jetsun quán tưởng chính bà là Đức Phật Lòng Bi với 100 Bổn Tôn hiền minh và phẫn nộ ở trong Ngài. Sau đó bà niệm OM MANI PADME HUNG, rồi trụ trong thiền định về ý nghĩa của rộng mở hoàn toàn. Như một kết quả, nhiều chúng sanh được giải thoát khỏi cõi địa ngục.

Chẳng bao lâu sau Jetsun trở lại thân và hồi phục sức khỏe. Trong suốt kinh nghiệm delog, mẹ bà và bạn bè canh xác bà suốt ngày đêm. Đôi lúc họ kinh nghiệm mùi hương thơm, đôi khi là mùi của xác chết, thỉnh thoảng có mùi rất êm dịu, và đôi lúc có mùi hôi. Những mùi này là dấu hiệu chỉ dẫn nơi đặc biệt mà Jetsun lúc đó đang thăm viếng.

KHÔNG CÓ GÌ ĐỂ LẤY HAY BỎ: KINH NGHIỆM CỦA DO KHYENTSE YESHE DORJE

Do Khyentse (1800-1866), sinh ra tại tỉnh Golok phía Đông Tây Tạng, Ngài được biết là một vị thầy thành thạo, kỳ diệu và vĩ đại nhất của phái Nyingma Phật giáo Tây Tạng. chuyến du hành đến những cõi tịnh độ bởi vị thầy tinh thông như Do Khyentse thường được phạm trù hóa trong văn học Phật giáo như những linh kiến thanh tịnh của các hoạt động giác ngộ, không như những kinh nghiệm delog. Ngoài ra, Ngài Do Khyentse chỉ nhắc đến mà không mô tả chi tiết chuyến du hành của Ngài đến thế giới trần tục như những cõi địa ngục trong khi đây là điều rất quan trọng cho văn chương delog để gợi cảm hứng cho mọi người. Do vậy bản tường thuật của Ngài về chuyến du hành đến cõi tịnh độ không thực sự được xếp loại như một mô tả delog.
Tuy nhiên tôi vẫn bao gồm chuyến du hành của Do Khyentse đến cõi tịnh độ, vì mô tả của Ngài minh họa chủ đề viếng thăm một hệ thống thế giới sống khác sau khi để lại thân thể, và cũng cho biết những chi tiết của sự biểu hiện cõi tịnh độ của Guru Rinpoche. 

Thời thanh niên, như một ẩn sĩ, Do Khyentse lang thang trong những vùng của Amdo ở phía Đông Bắc Tây Tạng, được hướng dẫn bởi vị thầy chính của Ngài, Dodrupchen Rinpoche Đệ Nhất. Đột nhiên, Ngài lâm bệnh đậu mùa, trong nhiều ngày thì viên tịch. Như một kết quả, Ngài chết trong 15 ngày. Vì Ngài đã phô diễn năng lực huyền bí bất thường từ hồi còn bé, những người đi theo Ngài không dám chạm vào thân Ngài, họ hy vọng Ngài sống lại.

Thân Huyễn Hóa Bị Phá Hủy

Do Khyentse cảm thấy Ngài được em gái đi kèm, Dakini Losal Drolma (1802-1861), cũng là một người đại thành thạo, và hai phụ nữ khác và một yogi. Ho cùng nhau du hành đến nhiều nơi của thế gian, từ cõi địa ngục đến cõi thiên đường. Mặc dù Do Khyentse cảm thấy có bạn đồng hành, nhưng bạn Ngài lại không chia sẻ cùng kinh nghiệm. Chẳng hạn, vào lúc đó, em gái Ngài đang học với Ngài Dodrupchen.

Băng qua nhiều châu lục, họ đến Núi Màu Đồng Quang Vinh, cõi tịnh độ của Đức Guru Rinpoche. Trên đường, họ gặp nhiều người ở những nơi khác. Dù Ngài không hiểu ngôn ngữ của họ, Ngài vẫn có thể giao tiếp với tất cả qua năng lực của tánh giác nội tại tâm Ngài. Tại đầu một cây cầu khổng lồ, nhóm của Ngài gặp mười Bổn Tôn phẫn nộ. Những Bổn Tôn thực hiện nghi lễ loại bỏ những dấu vết gây hại. Những người đi du hành vẫn mang theo những dấu vết gây hại từ thói quen làm người của họ, ngay cả dù đã nhận ra vị thầy là bất khả phân với họ.
Sau khi đi qua cổng bên ngoài và bên trong, họ gặp một vị tinh thông đang cầm một bình đầy cam lồ. Vị này tịnh hóa họ bằng việc tẩy rửa những bất tịnh với dòng cam lồ trong bình.

Sau đó họ đi vào một cung điện với sự biểu hiện thịnh vượng không thể tưởng. Bên trong, họ thấy Guru Rinpoche trong tướng phẫn nộ với năng lực choáng ngợp khiến Do Khyentse đuối sức với sự sợ hãi to lớn trong một lúc. Khi lấy lại ý thức, Ngài chứng kiến tất cả Bổn Tôn đang hưởng thụ một thân người như một bữa tiệc. Dường như thân thể được các Bổn Tôn hưởng thụ là chính Ngài.

Vào lúc đó, hai dakini phẫn nộ đến gần, ngồi bên cạnh em gái Ngài. Họ lột da và sắp xếp thịt, xương, và những bộ phận cơ thể của cô như một đống cúng dường. Một Bổn Tôn phẫn nộ xuất hiện từ bầu trời và ban phước cho thân cô. Sau đó những dakini dâng trái tim cô cho Bổn Tôn lãnh đạo. Những Bổn Tôn khác ăn ngấu nghiến nhiều phần của thân cô chẳng để sót thứ gì. Do Khyentse cảm thấy một tình thương và phiền muộn không thể chịu nổi vì sự biến mất của em gái. Nói chung, việc kháng cự chống lại sự cho hay làm mất thân vật chất của chúng ta, sinh khởi từ thói quen bám luyến mạnh mẽ. Để loại bỏ thói quen bám luyến đó là một kỳ công của năng lực tâm linh.

Tiếp Nhận Những Quán Đảnh

Sau đó họ leo lên một cầu thang pha lê to lớn. Do Khyentse cảm thấy như thể họ trôi bồng bềnh giống như những mảnh giấy trong gió, không còn thân thô nặng nữa vì những thân này đã bị các Bổn Tôn ăn hết trên đường. Họ đi vào một cung điện cực lạc và đẹp đẽ kỳ lạ. Cấu trúc tuyệt đẹp, chi tiết phong phú, và những âm thanh hoan hỷ của Giáo Pháp gống như đã mô tả trong bài nguyện khao khát của Núi Màu Đồng Quang Vinh.

Giữa cung điện, Guru Rinpoche ngồi trên một ngai quý, những tia sáng chiếu ra rực rỡ khắp mọi phương. Cả trái đất và bầu trời tràn đầy những đám mây các bậc giác ngộ trong thân tướng nam và nữ. Do Khyentse ước muốn nhận được ban phước từ Guru Rinpoche bằng cách chạm vào Ngài, nhưng điều này không làm được vì ông không còn thân.

Sau đó một dakini có nước da trắng tay cầm một sọ người đến gần Do Khyentse. Bà giải thích, “Guru Rinpoche là hiện thân của tất cả chư Phật ba thời. Biểu hiện của Ngài xuất hiện trong mọi cõi của vũ trụ, giống như một mặt trăng phản chiếu trong vô số bình nước. Như một phản chiếu trong gương, ngươi cũng là biểu hiện của Guru Rinpoche và được ủy nhiệm đến Tây Tạng để phục vụ con người và những chúng sanh phi nhân, phát hiện và bảo tồn những giáo lý chôn dấu huyền bí. Vì ngươi bị che ám bởi nhiễm ô của tử cung của thân huyễn, thân của ngươi đã được những Bổn Tôn ăn hết như một bữa tiệc. Giờ đây ngươi có thân ánh sáng với tinh hoa của trí tuệ. Ngươi phải tiếp nhận bốn quán đảnh từ Guru Rinpoche và gieo trồng hạt giống của bốn giai đoạn của những bậc trì-minh.”

Sau đó mọi người hiện diện trong cung điện thực hiện nghi lễ trong bảy ngày. Đức Guru Rinpoche chủ tọa nghi lễ như một vị Kim Cương Sư. Vua Trisong Detsen hoạt động như một phụ tá cho vị kim cương sư, Guru Chowang như vị thầy hát, Nyinma Trakpa là vị thầy nghi lễ, Duddul Dorje và Karma Lingpa như vị thầy giới luật, và Rigdzin Goddem như vị thầy của ban phước. Có rất nhiều vị trì-minh, daka, và dakini tham dự. Cuối nghi lễ, Do Khyentse nhận được bốn quán đảnh, khiến tịnh hóa những nhiễm ô của tử cung. Do Khyentse cũng được giao phó một hộp nhỏ chứa giáo lý huyền bí ẩn dấu (terma). Vào lúc chót, Guru Rinpoche ban giáo lý sau:

Khi ngươi nhận ra mọi hình tướng đều rỗng không,

Đó là cần sống một ít trong cô độc.

Khi sự sai lầm của hiện tượng hình tướng bị suy sụp, và

Bản tánh bẩm sinh bất biến được nhận ra – 

Không có sự phân biệt, thậm chí của những nhị nguyên vi tế, hoặc

Ngay cả việc bám luyến những đạo đức hư hỏng – 

Hãy duy trì trạng thái an tâm thật sự của thanh tịnh nguyên sơ.

Khi ngươi nhận ra mọi hình tướng như giấc mộng,

Việc hưởng thụ mọi đối tượng xác thịt chỉ là ảo ảnh.

Trong sinh tử dối gạt, không có gì để lấy hay bỏ.

Hãy luôn thực hiện những hoạt động bồ tát bao la.

Nhận ra những nhận thức ban ngày như tánh quang minh của pháp thân.

Nhận ra những nhận thức ban đêm như năng lực của báo thân.

Cho đến khi con và mẹ hợp nhất– tánh giác nội tại và lãnh vực tối thượng.

Sẽ với*tiến bộ qua mười giai đoạn và năm con đường[21] tốc độ của mặt trời và mặt trăng.

Khi ngươi viên mãn đại cực lạc bất biến,

Ngươi trong trạng thái nhất như với Ta.

Không hoạt động, không mô tả, và không biến đổi

Là những phương thức cuối cùng để giải thoát – hãy nhận biết tất cả điều này.

Guru Rinpoche cười ba lần, lớn đến nỗi Do Khyentse cả châu lục chấn động với tràng cười của Ngài. Sau khi nhận được hướng dẫn và ban phước từ Guru Rinpoche, Khyentse và bạn đồng hành rời đi. Sau đó vị dakini có nước da trắng đến lần nữa và nói:

Giống như mặt trời và những tia sáng,

Sự biểu hiện của Ngươi, và Guru Rinpoche, suối nguồn của sự biểu hiện, là bất khả phân.

Nhưng vì lý duyên sanh,

Nên hiện tại, ngươi xuất hiện như vị lãnh đạo và tùy tùng.

Trong tương lai, ngươi sẽ lại hợp nhất, như nước với nước.

Rồi một Bổn Tôn phẫn nộ với đôi mắt mở rộng nói với Do Khyentse:

Không bám luyến đến nơi chốn hay những đối tượng xác thịt,

Hãy hoàn thành mọi công việc đã giao cho ngươi

Sự bảo vệ ngươi của Ta là không thay đổi

Cầu mong ngươi đạt Phật quả để điều phục tam giới.

Trở Về Thế Gian

Do Khyentse và những bạn đồng hành ra khỏi cổng. Sau đó họ du hành đến những cõi tịnh độ của Đức Phật Vô Lượng Quang, Avalokiteshvara, và Tara. Cuối cùng, họ trở về thế gian. Trước tiên, vẫn trong thân tâm thức, Do Khyentse đến vị thầy gốc của Ngài, Dodrupchen Rinpoche Đệ Nhất, tại Yarlung Pemako, một khe núi có suối ở Thung lũng Ser. Ngài nhận được nhiều giáo lý và quán đảnh từ Dodrupchen.

Sau đó Ngài trở về thân. Ngài thấy một phụ nữ màu đỏ – đang bảo vệ thân Ngài – ra khỏi thân Ngài và biến mất vào không gian. Ngài cảm thấy chạm vào thân, và lập tức ở trong dạng thân vật chất. Trong một khoảng thời gian dài, Ngài phải nỗ lực lớn mới thấy, nói, và di chuyển được. Sau đó với cố gắng to lớn, Ngài có thể chuyển động tứ chi một chút, và những đệ tử đang chờ đợi đều chạy đến để giúp. Một thầy thuốc Trung Quốc cho Ngài một số thuốc, và dần dần điều trị bệnh đậu mùa và suy nhược trong khoảng một tháng.

Theo mô tả truyền miệng, Do Khyentse du hành đến nhiều hệ thống thế giới khác nhau vào một số dịp. Đôi khi Ngài đi đến những cõi tịnh độ gặp chư Phật và những vị thầy. Đôi khi Ngài đến những vùng đất bị che dấu hoặc những cõi của nhiều loại chúng sanh trên trái đất để phục vụ họ. Thỉnh thoảng Ngài du hành trong thân Ngài, bằng cách biến mất và tái hiện, và vào những thời điểm khác Ngài rời bỏ thân lại phía sau, như đã mô tả trước đây.

1] Ngài delog Do Khyentse chỉ cung cấp chi tiết những kinh nghiệm của Ngài trong cõi tịnh độ, nhưng các vị delog khác mô tả chi tiết về chuyến hành trình chuyển tiếp dài và gian khổ, sự xét xử khi đi qua phiên tòa của Tử Thần, và nhiều hệ thống thế giới đau khổ khác nhau mà họ đã chứng kiến trong rất nhiều chi tiết. Phần lớn những mô tả tập trung vào những đau khổ của nhiều cõi địa ngục và những cõi thấp khác nhau, và trong sự liên quan giữa những chi tiết của mọi delog này đều hoàn toàn tương đồng. Do đó tôi chỉ tóm tắt chi tiết của những cõi thấp này từ câu chuyện của Lingza Chokyi để tránh sự nhắc lại. Về những mô tả của tám địa ngục nóng trong mô tả của Chokyi, tôi đã kết hợp với chi tiết mô tả của Tsophu Dorlo.

[2] Bản văn kinh điển này, được biết trong tiếng Anh là Kinh Kim Cương, là một trong những giáo lý của Ðức Phật. Dạy rằng hiện tượng xuất hiện là ảo ảnh được phóng chiếu bởi tâm.

[3] Về nghi lễ sur chi tiết hơn, hãy xem chương 9, “Nghi lễ phục vụ cho người Chết và Sắp Chết,” đoạn “Những Nghi lễ Phục Vụ sau khi Chết,”

[4] Oddiyana là một vùng đất thời xưa ở Tây Bắc Ấn Ðộ, được biết trong truyền thống Tây Tạng như một trung tâm của rèn luyện mật truyền. Người ta tin rằng bây giờ là ở biên giới Pakistan và Afghanistan, chung quanh Thung lũng Swat của Pakistan.

[5] Kyema là một thán từ của Tây Tạng giống như ‘Than ôi!”

[6] Tạng, thopa, Thod Pa, sọ hay não

[7] Tạng, sMan Mo, một bộ tinh linh nữ.[8] Jambu là một thuật ngữ thời xưa cho Á châu. (Diêm Phù Ðề)

[9] Bản mô tả về bardo của Lingza Chokyi được tóm tắt trong phần đầu của chương này.

[10] Ðây phải là một tham khảo của Samten Chotso, mà bản mô tả xuất hiện sau đây trong chương này. Dartsedo bây giờ được biết là Kanding ở Sichuan.

[11] Phạn, jivamjiva, một con chim thần thoại có hai đầu, theo Tự Ðiển Phạn-Anh của Sir M. Monier William

[12] Hoa utpala (Phạn) được mô tả trong văn học Tây Tạng như một hoa màu xanh dương. Theo Tự Ðiển Phạn-Anh của Sir M. Monier William

[13] Ðây là những tiêu chuẩn phân chia chính của đạo Phật, được kết tập như Tripitaka, hay tam tạng giáo điển: Vinaya (luật) về giới luật đạo đức, Abhidharma (luận) về lý thuyết siêu hình (hay trí tuệ sáng suốt), và Sutra (kinh) về thiền định.

[14] Lama gốc là vị thầy chính truyền Pháp cho hành giả.

[15] Svatika (Phạn, Tạng, Yungtrung, gYung Drung) Là một biểu tượng bí mật của sức mạnh bất biến trong cả hai tôn giáo Phật giáo và Ấn Ðộ giáo (chữ vạn) trong nhiều thế kỷ.

[16] Shambala là một vương quốc huyền thoại được cai quản bởi luật lệ của đức hạnh bí mật. Người ta tin rằng nó hiện hữu trong dãy Hi Mã Lạp Sơn, chỉ có những bậc thành tựu tâm linh cao mới có thể thấy. Trong nhiều giáo lý mật truyền của đạo Phật, những phẩm tính tâm linh của thân, tâm hành giả được giải thích dưới dạng chi tiết của vũ trụ Shambhala.

[17] Cầu nguyện mong ước đòi hỏi phải tụng niệm hay hát những bản văn để đạt được những mong ước khác nhau.

[18] Tạng. dag shen jewa, bDag gZhan brJe Ba. Trao đổi chính mình với người khác là một thực hành thiền định đem hạnh phúc của mình cho người khác và nhận lấy đau khổ của họ vào mình qua năng lực của lòng bi. Trong những năm gần đây, thực hành này đã trở nên phổ biến giữa những Phật tử phương Tây sử dụng sự thiền định đặc biệt của tonglen (cho và nhận).

[19] Một vị Phật nữ.

[20] Chín thừa (Phạn, yana) bao gồm toàn bộ giáo lý của Phật giáo. Theo học phái Nyingma của Phật giáo Tây Tạng, chúng là ba thừa của sutra (Shravakanaya, Pratyekabuddhayana, và Mahayana), ba thừa ngoại tantra (Kriyatantra, Charyatantra, và Yogatantra) và ba thừa nội tantra (Mahayoga, Anuyoga, và Atiyoga [Dzogchen])

[21] Qua rèn luyện, hành giả tiến bộ qua mười giai đoạn bồ tát và năm con đường (tích lũy công đức, kết hợp, nhận biết, thiền định, và vượt lên rèn luyện) để đạt được giác ngộ.