Đời sống
Giảng Giải 38 Pháp Hạnh Phúc
Pháp sư Maha Thongkham (Bình Anson hiệu đính, 2006)
22/08/2554 23:20 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng


KỆ NGÔN III

 

HẠNH PHÚC VII

Bāhusaccañca
Học nhiều hiểu rộng

 

 

Có hai loại học nhiều hiều rộng

- Học nhiều hiểu rộng của người tại gia, tức là kiến thức theo đời.

- Học nhiều hiểu rộng của người xuất gia tức là kiến thức theo đạo.

Người đời vì phải sinh sống, cần phải nghe và học nhiều để tìm việc làm nuôi mình và gia đình.

Người tại gia cư sĩ là người còn lăn lộn tong đời, nên ai ai cũng mong cầu an vui hạnh phúc, bằng cách tạo lập tài sản và ngăn đón những điều khổ não hay là tai nạn. Vì vậy, người ta cần phải biết nhiều hiểu rộng, phải có kiến thức thích nghi với hoàn cảnh xã hội. Kiến thức là nấc thang giúp người ta leo lên khỏi bậc đói nghèo, tiến tới chỗ ấm no, kiến thức còn là chìa khóa để mở cửa kho báu vật có tính cách vật chất như danh lợi, tước quyền và bảo vật có tính cách tinh thần như hạnh phúc.

Sanh ra ai cũng như ai, đều là dốt nát từ buổi ban sơ, nhờ học với trường và học trong đời mà người ta mới có kiến thức. Ai bền tâm học hỏi thì kiến thức được nhiều, nghĩa là có tâm tạo nên kiến thức, cũng nên tạo nên trí tuệ. Người nên biết dùng trí tuệ mở rộng cái tâm để thâu nhập, kiến thức, thì kiến thức được chánh đại.

Trong pháp Hạnh phúc thứ VII này, Đức Phật dạy ta phải nghe nhiều hiểu rộng để làm lợi ích cho mình.

Trong Tạng Kinh có nhiều đoạn được Đức Phật dạy chúng sanh phải nghe nhiều, hiểu rộng để làm lợi ích cho mình. Trong bộ kinh Digha-nikāya đoạn Pativagga, Đức Thế Tôn có dạy rằng cha mẹ có 5 phận sự đối với con, mà một phận sự là cha mẹ phải lo cho con ăn học thành tài.

Cũng trong kinh ấy, Ngài dạy: Bậc trò đối với thầy cũng có 5 phận sự, trong đó có một phận sự là thầy phải dạy học trò cho chu đáo.

Trong kinh Anguttaranikāya đoạn Chakka-nipatta, Đức Phật có dạy 6 điều kính trọng, trong đó có một điều là kính trọng hay cố tâm học.

Cũng trong kinh ấy, Ngài lại dạy về thất bửu nhà Phật mà có một câu dạy Bāhusacca, nghĩa là nghe nhiều hiểu rộng.

Trong kinh Anguttanrannikāya đoạn Dasaka-nipatta, Ngài dạy rằng tâm có một chỗ nương nhờ mà một chỗ nương nhờ đó là nghe nhiều học rộng.

Bao quát hơn, Đức Phật dạy tín đồ về tam học là Giới-Định-Tuệ, để nghe nhiều học rộng cho chân chánh, để hiểu rõ chân lý của Ngài mà hành theo, hầu thoát khỏi trầm luân.

Người ta có thể hỏi: Chúng ta nên học những gì? Trong đời này có nhiều môn để người học. Phật dạy người nên chọn một nghề nào mà mình thích và có khả năng học được. Nghề nào cũng chẳng hèn, miễn là nghề ấy là nghề vô tội, hay nói theo Bát Chánh Đạo, là chánh nghiệp.

Tóm lại, người tại gia cư sĩ học gì cũng được, miễn là có chánh nghiệp và chánh mạng. Còn bậc xuất gia thì phải học ba điều để làm kiến thức căn bản:

a) Pariyattisutta: học nhiều hiểu rộng về pháp học, đó là về Tam Tạng thánh điển.

b) Patipattisutta: nghe nhiều học rộng về pháp hành, và hành theo chánh đạo để đạt Niết Bàn.

c) Pativedhasutta: nghe nhiều học rộng về pháp thành, là hiểu rõ pháp giải pháp và hành cho giải thoát.

Bậc gọi là nghe nhiều hiểu rộng phải có đủ 5 điều kiện là:

- Bāhusutta: được nghe nhiều học rộng.

- Dhata: thuộc rõ ý nghĩa của các pháp.

- Vacasa paricittā: thuộc làu và có thể giảng giải và ví dụ cho người nghe hiểu rõ rệt những pháp mà mình giảng.

- Manasānupekkhā: hằng suy nghĩ nghiên cứu các pháp, nghĩa là hằng hành theo pháp mà mình đã học hiểu rồi, và nhận thấy lợí ich của sự học nhiều hiểu rộng.

- Ditthya supatividdhā: hiểu thấu bằng trí tuệ, nghĩa là dùng minh sát tuệ quan sát cho thấy rõ ngũ uẩn và đắc được đạo quả Niết Bàn.

Bậc Phật tử nghe nhiều hiểu rộng có được nhiều sự hạnh phúc là:

1. Hiểu rõ ý nghĩa của Tam Tạng.

2. Được nhiều phước cao quý.

3. Hiểu thông pháp học và pháp hành.

4. Đối đáp rất giỏi khi bị cật vấn.

5. Nói năng hoạt bát.

6. Hộ trì Pháp.

7. Không dễ duôi.

8. Được hưởng hương vị của Pháp.

9. Sẽ được an lạc trong cõi người và trời hay Niết Bàn trong ngày vị lai.

10. Diệt được tam độc từ từ.

11. Được lợi lộc, danh dự, quyền chức, ngợi khen và hạnh phúc.

12. Dứt hết nhân quả và không còn luân hồi nữa.

Chính Đức Phật đã dùng trí tuệ để hiểu biết và cứu độ chúng sanh, chẳng hạn như sự tích sau đây:

Thời quá khứ, Đức Bồ tát sanh vào dòng Bà la môn và giữ chức quân sư của vua xứ Bārānasī. Ngài tên là Senaka, ngài nổi danh là bậc trí thức nghe nhiều hiểu rộng. Ngài thường đăng đàn thuyết pháp vào ngày mùng 8, rằm, 23 và 30, thường dạy người bỏ dữ về lành, thực hành theo thiện pháp, như thọ trì ngũ giới hay theo bát quan trai. Đây là sự hành trì tuệ Ba la mật của ngài.

Lúc ấy, có một thầy Bà la môn ăn xin chuyên nghiệp. Ông ấy dành dụm được một trăm đồng, ông đem gới cho một người bạn.

Vì túng quẫn nên người bạn của ông ta xài hết số tiền ấy, ông phải đem con gái của ông gả cho thầy Bà la môn ăn xin ấy để trừ số tiền.

Khi được vợ trẻ đẹp, thầy Bà la môn không còn biết gì hơn là vợ. Vợ ông sai ông đi xin một nơi xa để có nhiều tiền cho cô tiêu dùng. Nhân dịp ông chồng già đi vắng, cô lại tư tình với một thầy Bà la môn trẻ tuổi. Thầy Bà la môn già đi xin xứ xa lâu ngày, để dành một số tiền lớn là 700 đồng, lật đật trở về thăm vợ. Khi về gần tới nhà, thầy đến ngồi dưới cội cây to có bộng, rồi mở bị ra lấy cơm ăn, khi ăn xong, thầy xuống mé sông uống nước. Khi ấy có một con rắn độc chun vào bị của ông, tự nhiên ông không hay biết. Khi uống nước xong, lên cột bị lại rồi mang lên vai ra đi, ông không hề biết rằng có con rắn đã nằm trong bị. Vị thọ thần ở trên cội cây ấy thấy vậy thương hại ông nên nói rằng "Thầy Bà la môn ơi, nếu thầy chưa về tới nhà đêm nay, thì thầy chết dọc đường; bằng về tới nhà thì vợ thầy chết".

Thầy Bà la môn lấy làm kinh sợ vì thầy không muốn chết, mà cũng không muốn cho vợ chết. Ông khóc lóc và đi vào thành. Ngày ấy, nhằm ngày giới, Đức Bồ tát Senaka có thuyết pháp tại tư dinh của ngài, nên người trong thành đem hương đăng, hoa đen tư dinh của ngài để nghe pháp. Thầy Bà la môn biết tin ấy, nên ông liền theo đoàn người đi nghe thuyết pháp, và nghĩ rằng: "Ta nghe pháp, lòng ta sẽ yên tịnh". Khi đến nơi, thầy Bà la môn ấy than vãn, khóc lóc. Đức Bồ tát mới hỏi và biết mọi việc, ngài lại hỏi: "Khi thầy ăn cơm xong, có bỏ đi uống nước mà có cột cái bị lại không?" Thầy đáp: "Có đi, nhưng không có cột bị". Đức Bồ tát đã biết rằng có rắn độc bò vào trong bị của thầy, nếu thầy mở bị ra ăn cơm chiều thì rắn ấy sẽ cắn thầy, bằng về nhà vợ mở ra thì vợ sẽ bị rắn cắn. Đức Bồ tát cho mời các thầy thuốc rắn giỏi đến và bảo: "Thầy phải nới cái bị của thầy ra ngay bây giờ". Khi bị vừa mở, con rắn bò ra, liền bị thầy rắn bắt và đem đi bỏ một nơi xa. Những người có mặt nơi ấy đều hoan hô công đức của Bồ tát.

Ngài mới cho thầy ấy thêm ba trăm đồng nữa hiệp với bảy trăm của thầy xin được cho đủ ngàn; và dạy thầy Bà la môn ấy rằng "Ngươi đem của này về chôn giấu một nơi nào, xong rồi hãy vào nhà." Thầy Bà la môn bái tạ Đức Bồ tát rồi về, đem giấu tiền vào một chỗ kín rồi mới vô nhà. Vợ ông lo nước cho ông tắm rữa rồi hỏi ông đi xin được bao nhiêu tiền bạc. Ông nói thật cho vợ biết đã xin được một ngàn đồng và cho biết số tiền đem giấu ở chỗ kín nọ. Vợ ông liền cho nhân tình biết chỗ giấu tiền. Người nhân tình bèn đến nơi ăn cắp số tiền giấu đó. Sáng ngày hôm sau thầy Bà la môn đến nơi mình chôn giấu tiền để lấy về, mới thấy số tiền đã mất. Ông khóc lóc và đến nhà Đức Bồ tát thuật lại tự sự.

Đức Bồ tát lấy tiền khác cho thầy và dạy rằng: "Thầy hãy về làm lễ cúng dường cho các thầy Bà la môn, để hồi hướng phước báu cho cha mẹ thầy. Phần thầy mời 7 vị Bà la môn và phần vợ thầy mời 7 vị. Rồi mỗi ngày phải bớt đi một cho đến ngày thứ bảy. Rồi thầy cho ta biết vị nào còn sau hết."

Thầy vâng lời làm theo. Đến ngày thứ bảy, bên vợ thầy còn một thầy Bà la môn trẻ tuổi. Thầy đến cho Đức Bồ tát biết, Đức Bồ tát ra lệnh bắt thầy Bà la môn ấy đến thẩm vấn, lập tức ngài hỏi: "Tại sao người trộm tiền của thầy Bà la môn già này?"

Thầy Bà la môn trẻ tuổi chối: "Thưa ngài Đại trí thức, tôi nào có ăn cắp của ông ta đâu".

Đức Bồ tát nói "Ngươi đừng chối, ngươi hãy thú thật đi, vì ta đã hiểu hết rồi."

Vì kinh sợ, nên thầy Bà la môn trẻ tuổi ấy cung khai hết mọi việc.

Sau khi thuyết tích này xong. Đức Thế Tôn mới dạy rằng "Này các thầy Tỳ khưu, trong khi Như Lai sanh làm vị đại trí thức tên Senaka ấy, Như Lai trông thấy rõ nguyên nhân của chuyện ấy bằng trí tuệ và đã giải khổ cho thầy Bà la môn ấy".

Người đã biết rộng hiểu nhiều còn cần phải có thêm trí tuệ thì kiến thức mới có lợi, mới có lợi lạc. Mà muốn có trí tuệ, thì phải hành theo Phật pháp và trước hết, phải biết những nguyên nhân nào làm cho trí tuệ được phát sanh và tiến triển.

Có 4 nguyên nhân phát sanh trí tuệ:

1. Sappurisupasamseva: thân thiện với các bậc trí thức.

2. Sadhammasavana: nghe pháp (lời dạy bảo) của bậc trí thức như là:

- Saddhā: có đức tin. Tin nhân quả.

- Sīla: trì giới (Ngũ giới hay Bát quan trai giới, hay Cụ túc giới).

- Hiri: có sự hổ thẹn tội lỗi.

- Ottappa: có sự ghê sợ tội lỗi.

- Bahusacca: học nhiều hiểu rộng.

- Cāga: biết bố thí.

- Pañña: có trí tuệ

4. Yonisomanasikara: khi được nghe pháp của các bậc trí thức xong, phải nghiệm xét cho chu đáo rồi hãy hành theo.

5. Dhammanudammapatipatti: hành đúng theo những pháp của các bậc trí thức đã dạy cho cao thượng.

 

 

HẠNH PHÚC VIII

Sippañca
Có nghề

 

Đức Thế Tôn dạy rằng nghề nghiệp đem hạnh phúc đến cho ta. Vậy ta cần hiểu biết:

- Nghề nghiệp là gì?

- Nghề nghiệp đem hạnh phúc gì lại cho ta?

- Làm sao ta có nghề?

Chú giải có dạy: Sippam nama anagariyava-sena duvidham hatthakusalam.

Nghề nghiệp là công việc làm, và có hai loại: nghề của người tại gia, và nghề của hạng xuất gia.

Pháp Hạnh phúc thứ VII dạy ta cần biết rộng hiểu nhiều, nghĩa là dạy ta thâu thập cho nhiều kiến thức về giáo lý, về lý thuyết; còn pháp Hạnh phúc thứ VIII này thì dạy ta thực hành, đem kiến thức ấy mà áp dụng cho lợi lạc, vì nghề nghiệp nào cũng cần có kiến thức làm căn bản. Vậy nghề nghiệp là kiến thức đem ra thực hành, người không có kiến thức thì không làm được gì hết.

Người có nghề nghiệp đi tới nơi nào cũng được an vui, không thiếu thốn, đúng như câu cách ngôn "Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh". Trong đời có nhiều nghề khác nhau, nghề mà người Phật tử còn tại gia cần phải lựa là nghề nào không tội lỗi, gọi là Chánh nghiệp. Đức Thế Tôn có dạy con người khi còn trẻ nên học một nghề gì cho giỏi thì nghề ấy sẽ đưa sự an vui đến cho mình, như nghề anh chuyên môn búng sạn sau đây.

Khi xưa tại kinh đô Ba La Nại (Bārānasī) có một người què, nhưng lại búng sạn rất giỏi. Những kẻ trong thành thường đẩy xe cho anh ra ngoài cửa thành, để anh dưới cội cây to, đem sạn đến và bảo anh dùng sạn búng lá cây thành hình thú này, thú nọ kia xem chơi rồi cho anh tiền.

Ngày nọ nhà vua ngự chơi vườn thượng uyển đi ngang qua chỗ ấy, những đứa trẻ kinh sợ bỏ chạy, chỉ còn mình anh què ở lại. Nhà vua trông thấy bừa bãi dưới đất những lá cây lủng lỗ có hình thú rất ngộ nghĩnh, mới phán hỏi quan cận thần. Vị ấy mới tâu tự sự.

Nhà vua gọi anh què đến hỏi: "Này gã kia, trẫm có một vị quân sư có tật ham nói, khi trẫm muốn nói điều chi thì quân sư cướp lời hết, trẫm không nói gì được. Ngươi có phương kế chi làm cho ông không nói gì nữa được chăng?".

Anh què đáp: "Tâu Hoàng Thượng, nếu có vài cân phân dê thì hạ thần có phương thế làm được".

Nhà vua bèn đem anh què về, để anh ngồi gần ngài sau một tấm màn có khoét lỗ, và để gần bên anh một cân phân dê khô. Rồi ngài gọi triều thần lại để bàn việc quốc gia.

Vị quân sư quen tật cướp lời nói của mọi người, vừa hả miệng toan cướp lời vua liền bị anh què búng một viên phân dê vào miệng. Ham nói quá, ông nuốt riết viên phân dê để nói. Mỗi lần ông há miệng là bị một viên phân lọt vào, mà ông cứ nói không ngưng.

Đến khi vua trông thấy anh què đã búng hết phân, ngài mới bảo vị quân sư rằng: "Này quân sư, vì tật ham nói, nên khanh nuốt hết một cân phân dê khô, mà vẫn chưa biết. Dạ dày của khanh không thể tiêu hóa hết được cân phân dê ấy, vậy khanh về uống thuốc xổ ra đi". Vị quân sư cả thẹn ra về. Từ ấy, ông không nói nhiều nữa.

Nhờ anh què mà lỗ tai vua đỡ bực, nên ngài ban cho anh què ấy thâu thuế bốn thôn được ước độ mười muôn dân.

Có một vị đại thần thấy thế mới tâu rằng: "Tâu Đại vương, trong đời này dù người nào, nghề nào cũng cần phải học. Nghề búng sạn của anh què mà cũng được Hoàng thượng ban thưởng".

Rồi vị quan ấy nói câu kệ:

Sādhu kho sippam nāma

Api yādisakīdisam

Passa ajappahārena

Laddhagāmā catudisā.

Nghĩa là: "Đã gọi là nghề, dù một nghề gì cũng làm cho ta được hưởng quả mỹ mãn".

Người biết nghề đành là có phần lợi lạc, mà còn phải biết cách áp dụng và áp dụng đúng lúc thì mới kết quả an vui. Nếu áp dụng không thích nghi, thì lại đem cái khổ đến cho mình, như sự tích của người học trò của anh què búng sạn trên kia:

Có một người nọ học nghề với anh què nọ. Sau khi học rành nghề, người ấy mới định thử tài mình thầm nghĩ, nếu mình búng sạn thử vào bò, heo, dê v.v... thì lũ họ bắt mình đến và bị phạt.

Một hôm gặp Đức Phật Độc Giác, anh chàng nghĩ: Nếu ta thử tài với người khác, thì sẽ bị cha mẹ, vợ con họ kiện thưa, còn người này cô độc, dù ta có thử cũng chẳng sao. Tức thì anh liền búng vào một viên sạn vào lỗ tai của Đức Phật Độc Giác, viên sạn đi xuyên từ lỗ tai bên này sang bên kia. Nếu là người thường thì chết liền tại chỗ vì viên đạn đó, nhưng Đức Phật Độc Giác dùng thiền định chế ngự được thương tích nên về đến tư thất ngài mới nhập diệt.

Anh nọ lại tìm đến tư thất của ngài, thấy tín đồ đang lo hỏa táng và than khóc, anh mới khoe: "Mấy người biết không? ngài ta chết đây là do tài búng sạn của ta".

Tưởng khoe như vậy là người ta kính nể và khen mình, nào ngờ tín đồ nổi giận, lôi anh ta ra đánh chết. Vì tội giết Đấng Cao Cả nên sau khi chết anh sanh vào địa ngục A Tỳ.

Vậy người Phật tử nên chọn lấy một nghề gọi là chánh nghiệp mới được hạnh phúc. Nhưng làm sao cho ta có nghề? Điều rất giản dị muốn có nghề, thì phải cố học.

Về nghề xuất gia, Đức Thế Tôn có dạy trong bài kinh Sattṛakastta, đoạn Dutiyanikāya Dassaka-nipatta, rằng: Này các thầy Tỳ khưu, thầy Tỳ khưu trong Phật đạo phải siêng năng giúp nhau hành Tăng sự hay việc lớn nhỏ chi chi. Nên dùng trí tuệ quan sát mọi việc xem nên làm hay không?

Vậy các bậc xuất gia phải có nghề trong phạm vi của bậc xuất gia, mà nghề của bậc xuất gia là tăng sự, như lễ xuất gia, lễ nhập hạ, lễ dâng y, lễ ra hạ, lễ phát lồ v.v... thầy Tỳ khưu phải thông hiểu.

Hơn nữa, thầy Tỳ khưu còn nên học thông 8 điều cũng thuộc vào nghề của mình là:

1. Rakkhandriyasippam: nghề giữ lục căn thanh tịnh.

2. Sādhukasippam: nghề biết ba điều lợí ich.

3. Ñānābhāsākovidhasippam: nghề hiểu thông nhiều thứ tiếng là Bắc Phạn và Nam Phạn.

4. Dhammarattasippam: nghề biết thỏa thích có 10 pháp nương nhờ:

a) Sīla: trì giới trong sạch.

b) Bāhusacca: học nhiều hiểu rộng.

c) Kalyanimitatā: tư cách có bạn lành.

d) Sovaccassatā: tư cách con người dễ dạy.

e) Dakkhatā: tư cách người siêng năng.

f) Dhamma kāmatā: tư cách người ưa thích pháp.

g) Viriya: tư cách người có tinh tấn hành đạo.

h) Santosa: có tri túc.

i) Sati: có trí nhớ.

j) Sukkhapekkhāsippam: học biết 7 điều an lạc là:

- Manussasukhaṃ: an vui trong cõi người.

- Dibbasukhaṃ: an vui trong cõi trời.

- Jhānasukhaṃ: an vui của Thiền định.

- Vipassanāsukhaṃ: an vui của minh sát tuệ.

- Maggasukhaṃ: an vui của Đạo.

- Phalasukhaṃ: an vui của Quả.

- Nibbānasukhaṃ: an vui của Niết Bàn.

5. Nānāsippavisaradasippam: nghề hiểu rõ các chi tiết của nghề.

6. Kulasilasippam: nghề hiểu rõ phận sự của người còn ở trong gia đình.

7. Bhitasippam: nghề hiểu rõ hổ thẹn tội lỗi và ghê sợ tội lỗi là nguyên nhân sanh giới, và ngăn đón oan trái để khỏi sanh vào ác đạo.

8. Buddhasippam: nghề hiểu rõ Pháp bảo là Tam Tạng.

Người có nghề thì được những hạnh phúc này:

1. Trở nên người lành.

2. Làm cho mình hơn người bên mình.

3. Làm cho mình giỏi hơn người khác.

4. Làm cho mình cao quí hơn người khác.

5. Làm cho mình cao thượng hơn người khác.

6. Làm cho mình cao cả hơn người khác.

7. Tự mình sinh sống được dễ dàng.

8. Làm cho mình trở nên người khôn ngoan hơn kẻ khác.

9. Làm cho mình giàu hơn người khác.

10. Làm cho mình có an vui hơn người khác.

11. Làm cho mình trở nên có giá trị hơn người khác.

12. Làm cho xã hội được tiến hóa.

 

 

HẠNH PHÚC IX

Vinayo ca susikkhito
Học thông được luật

 

Muốn học thông luật cần phải phân tách 3 điểm trong luật:

- Trạng thái của luật.

- Sự quan trọng của luật.

- Luật là nguyên tắc rất đẹp để người hành theo.

Ai ai cũng biết rằng luật là những điều cấm không cho người vi phạm, do nơi nhiều vị trí thức đồng lập ra, để mọi người trong một xã hội thực hành theo, để đem an vui lại cho xã hội, không phải do một người có toàn quyền sinh sát trong nhóm hay xã hội độc tài ra lệnh cấm đoán.

Ai ai cũng biết rằng chúng ta mỗi người chúng ta đều có 2 lối đi là đường đời và đường đạo, vì mỗi người chúng ta có hai thành phần quan trọng là thân và tâm. Thân này sanh ra trong đời và sống trong đời, trưởng thành trong đời và sống trong đời. Tâm của chúng ta cũng vậy. Nhưng tâm phải sống trong khuôn khổ của đạo đức tức là luật của đạo, cũng như thân phải tùy thuộc kỷ luật, tức là luật của đời.

Tất cả nhân loại sanh ra trong cõi Ta bà này đều phải ở dưới nhiều định luật. Nếu là người tại gia cư sĩ, thì phải ở dưới định luật của chính phủ, ngoài ra còn tuân theo luật của Đức Phật, là ngũ giới hay bát quan trai giới. Nếu người nào chỉ biết giữ theo luật của chính phủ, nhưng không biết luật của tôn giáo, hay nói riêng là của Đạo Phật, thì người ấy chỉ tránh được cho mình những điều phiền lụy về thể xác, nhưng tinh thần không được hạnh phúc thanh cao trong kiếp này và luôn cả kiếp vị lai.

Vì vậy nên có câu Phật dạy rằng:

No ce assa buddhi

Vinayo vā susikkhito.

Vane andhamahīsova

Careyya bāhuko naro.

Nghĩa là sự hành động của nhân loại mà không có luật bắt buộc họ phải thực hành theo, thì không khác nào bầy bò đui mù đi trong rừng rậm.

Nơi đây tôi xin đề cập riêng về luật của đạo. Theo Tam Tạng của Đức Thế Tôn đã giáo truyền thì luật ấy chia ra làm 2 bộ:

- Agāriyavinaya: luật của người tại gia.

- Anāgariyavinaya: luật của người xuất gia.

LUẬT CỦA NGƯỜI TẠI GIA

Người tại gia là người còn trong gia đình, chưa có thể hay là không thể bỏ gia đình để dành theo hạnh của các bậc xuất gia, nên Đức Phật có ấn định giới luật cho hàng cư sĩ. Luật ấy gồm 10 điều chế ngự thân, khẩu, ý. Mười điều luật ấy có khi gọi là thập thiện đối với thập ác. Thập ác là mười điều ác chia ra làm 3 loại là:

- 3 điều ác do thân tạo ra là: sát sanh, trộm cướp, tà dâm.

- 4 điều ác do khẩu tạo ra là: nói dối, nói đâm thọc, nói ác, nói vô ích.

- 3 điều ác do ý (tâm) tạo ra là: tham lam thái quá, oán thù, tà kiến.

Mười điều ác ấy xin lần lượt giảng giải thứ tự sau đây:

1. Sát sanh (Panatipata): là cố ý giết hay là xúi kẻ khác giết người hoặc một động vật có sự sống.

Nếu giết thú nhỏ thì tội ít, còn thú càng lớn thì tội càng nặng; nếu giết người thì tội càng nặng hơn. Nếu người sát sanh có đủ năm chỉ sau đây mới gọi là sát sanh:

- Pāno: chúng sanh có thức tánh.

- Pāṇsannītā: biết rằng chúng sanh ấy có thức tánh.

- Vadhakacittaṃ: cố ý giết.

- Upakkāmo: cố gắng tìm cách giết chúng sanh ấy.

- Tena maranam: giết chúng sanh ấy được là nhờ sự cố gắng ấy.

Nếu thiếu một chỉ nào, thì người giết hại không gọi là phạm tội sát sanh, nhưng giới hạnh của người ấy không được trong sạch.

2. Trộm cướp (Adinnādānā): có tác ý trộm cướp khi biết rằng món đồ cướp lấy có chủ, chủ không bằng lòng cho mà vẫn cố ý trộm cướp hay cướp lấy về cho mình. Tội trộm cướp nặng hay nhẹ là tùy theo của ít hay nhiều, giá cao hay thấp, và cũng tùy theo người bị cướp ấy là người lương thiện và có giới hạnh hay không.

Người hoàn toàn phạm tội trộm cướp là khi nào người phạm đủ năm chi sau đây:

- Parapariggahitam: của có chủ giữ gìn.

- Parapariggahitasaññitā: biết rằng của có chủ.

- Theyyacittam: cố tâm trộm cướp lấy cho bằng được.

- Upakkamo: cố tìm mưu kế trộm cướp lấy.

- Tenaharanam: trộm cướp được đều nhờ sự cố gắng ấy.

3. Tà dâm: dịch ở tiếng Phạn là Kāma, nghĩa là sự mơ ước. Tiếng này thường được dịch là Trần nhưng nơi đây phải dịch là Dâm. Dâm có hai trường hợp, phạm tội và không phạm tội:

- Sadārasantoso: sự ăn ở với với vợ nhà là không phạm tội.

- Paradāragamana: sự ăn ở với kẻ khác là phạm tội.

Tà dâm là một điều mà các vị thiện trí thức nhất là Đức Phật hằng chê là pháp thấp hèn, làm cho chúng sanh tội lỗi và đau khổ trong luân hồi.

Phật giáo cấm phạm dâm đến 20 hạng người, gọi là Agamaniyatthāna - người bất khả xâm phạm.

- Māturakkhitā: người phụ nữ còn có mẹ giữ gìn.

- Piturakkhitā: người phụ nữ còn có cha giữ gìn.

- Mātāpiturakkhitā: người phụ nữ còn có cha mẹ giữ gìn.

- Bhāturakkhitā: người phụ nữ còn có anh giữ gìn, nghĩa là người đã mất cha mẹ, hoặc còn mà phải ở với anh, anh có phận sự gìn giữ.

- Bhaginīrakkhitā: người phụ nữ có chị hay em gái gìn giữ.

- Ñatirakkhitā: người phụ nữ có quyến thuộc gìn giữ.

- Gottarakkhitā: người phụ nữ còn có người trong họ gìn giữ.

- Dhammarakkhitā: người phụ nữ có pháp gìn giữ, nghĩa là người phụ nữ xuất gia ở trong giới luật, còn có nhiều người cùng đạo gìn giữ.

- Sārakhitā: người phụ nữ đã có chồng hay người đi hỏi rồi.

- Saparidanto: người phụ nữ phạm luật nước, nghĩa là người phụ nữ bị nhà chức trách không cho hành động theo ý muốn của mình, hoặc cho người nam đến giao tiếp.

- Dhanamakkhitā: người phụ nữ đã có người mua đổi bằng tiền của dù nhiều hay ít.

- Chandavāsini: người phụ nữ theo trai, người đàn ông bằng lòng đem về nhà làm vợ.

- Bhogavāsinī: người phụ nữ ưng làm vợ người vì tiền, nghĩa là người phụ nữ ấy ưng làm vợ của người nam vì một số tiền dù ít hay nhiều.

- Patavāsinī: người phụ nữ ưng làm vợ người vì y phục, nghĩa là chịu lãnh một số y phục để về làm vợ.

- Odapattakinī: người phụ nữ bằng lòng để cho người khác đem bàn tay mình để vào bàn tay người nam, rồi nhúng vào chậu nước mà nói rằng: hai người hãy ở với nhau như nước này, không bao giờ chia rẽ nhau. Đây là phép cưới ngày xưa của Ấn Độ.

- Obhatakumphatā: người phụ nữ đội trên đầu nhờ người nam để xuống rồi người ấy đem về làm vợ.

- Dāsī ca bhariỳa ca: người phụ nữ đã làm tớ mà cũng là vợ, nghĩa là trước kia là tớ sau lại ở với ông chủ.

- Kammakārinī ca bhariyā ca: người phụ nữ làm công mà cũng là vợ (như trên).

- Dha jāhatā: người phụ nữ bị quan quân bắt về, nghĩa là nữ tù binh.

- Mahuttikā: người phụ nữ có tình với người nam, họ gặp nhau một đôi giờ (như vợ bé thời bây giờ).

Người nam không được xâm phạm đến 20 hạng phụ nữ kể trên; còn người nữ khi biết mình thuộc về 20 hạng ấy mà còn ngoại tình cũng gọi là tà dâm.

Cũng như hai giới trên, giới tà dâm nếu phạm vào người ít đức thì tội ít, bằng phạm vào người có nhiều giới đức thì tội nhiều.

Giới tà dâm có bốn chi để cho người biết mình có phạm giới hoặc giới bị nhơ đục:

- Aga nanīyaṭṭhānaṃ: người mà ta không nên hành dâm (20 hạng phụ nữ đã kể trên).

- Tasmin sevanacittam: tâm muốn hành dâm với người không nên hành dâm.

- Sevanappayogo: cố gắng tìm cách hành dâm.

- Maggena maggappaṭipādanaṃ: đã hành dâm được do sự cố gắng ấy.

Trong ba giới sát sanh, trộm cướp, tà dâm kể trên, sát sanh và trộm cướp là hai cửa khẩu của thân và khẩu, còn tà dâm chỉ thuộc về thân mà thôi.

Phật giáo quan niệm rằng điều ác sanh lên do thân, khẩu nên luật không bắt tội về tâm, vì tâm chỉ toan tính mà điều ác chưa thi hành thì nhân vật mà tâm tính hại ấy thực tế vẫn chưa bị hại vì sự suy nghĩ ác của tâm.

4. Nói dối: theo Chú giải thì chẳng những nói dối bằng miệng mà thôi, người cũng có thể dùng thân thể ra dấu hiệu hoặc dùng thư từ mà dối gạt người khác. Hơn nữa kẽ đã làm tội, mà người khác hỏi đến, sợ chối bị phạm nói dối, bằng thú nhận thì sợ bị hành phạt, cứ nín thính, như vậy cũng phạm tội nói dối.

Nói dối nếu hại ít người thì nhẹ tội, bằng hại nhiều người thì nặng tội. Nói dối có bốn chi là:

- Atathaṃ vatthu: chuyện, sự, nhân hay là vật không thật.

- Visamvāyanacittaṃ: tâm muốn nói sai sự thật.

- Tajjovāyāmo: cố gắng nói sai sự thật theo ý muốn.

- Parassa tadatthavijānānaṃ: làm cho người khác biết rõ chuyện (mà mình nói ấy).

Có chỗ nói dối có ba chi khác hơn là:

- Abhutaṃ vacanaṃ: lời không thật.

- Visaṃ vadanacittaṃ: tâm muốn nói sai sự thật.

- Parassa tadatthvijānanaṃ: làm cho người khác biết rõ chuyện (mà mình nói) ấy.

5. Nói đâm thọc: con người bị sự tham lam, sân hận, si mê làm mờ ám; thường mưu toan làm cho những kẻ đang thương yêu quí mến nhau chia rẽ nhau, thù oán nhau cho bỏ ghét, cho đã lòng oán hận hoặc là để cầu thân với bên này đặng trả oán bên kia. Thái độ ấy gọi là Pesunāvācā, tức là nói đâm thọc.

Lời nói đâm thọc, chia rẽ được người có giới đức ít, thì ít tội; chia rẽ người có đức hạnh cao thì nhiều tội. Còn nếu nói đâm thọc mà không có kết quả chi cả thì tội ít.

Nói đâm thọc có bốn chi là:

- Bhinditatabbo paro: người có thể chia rẽ.

- Bhedapurekkhāratā piyakamyatā: sự muốn chia rẽ, hoặc muốn cho một bên thân thiện với mình.

- Tajjo vāyamo: sự cố gắng được kết quả.

- Tadatthavijānāma: làm cho hai bên biết rằng họ ghét nhau (đã thành công trong sự mưu toan ấy).

6. Ác ngữ: là nói lời hung dữ, chửi rủa. Chú giải có dạy rằng khi ta giận hờn nguyền rủa và trù ẻo kẻ khác cho bị tai nạn, nói những điều xấu của kẻ khác làm cho người ta mất danh giá, ấy là ác ngữ.

Riêng về phần cha mẹ chửi rủa con, không gọi là ác ngữ, vì mặc dù ngoài miệng chửi rủa mà trong lòng thương yêu, không muốn cho con bị tai nạn theo lời rủa của mình. Như tích sau đây:

Có một gã thanh niên kia cãi lời mẹ đi chơi trong rừng, bà mẹ sợ con bị tai nạn ngăn cản không được mới rủa: "Mầy đi sẽ bị trâu rừng dữ rượt mầy".

Người con vào rừng bị trâu rừng rượt. Nhắm không thể nào chạy khỏi, người ấy mới phát nguyện rằng: "Khi tôi ra đi, mẹ tôi có rủa tôi, nếu mẹ tôi có ác ý muốn cho tôi chết, tôi xin chịu chết; bằng mẹ tôi chỉ hăm dọa cho tôi sợ, xin cho tôi thoát nạn." Người thanh niên vừa dứt nguyện, trâu rừng tự trở lui không hại người thanh niên ấy.

Tích này cho thấy rằng dù lời nói ác nhưng tâm không cố vào, thì không hoàn toàn là ác ngữ. Nhưng đó là tư cách của người mất dạy, làm giảm bớt giá trị con người, vậy chúng ta cũng không nên dùng tới lời ác như thế, mà nên dùng lời dịu ngọt ta sẽ thấy ở pháp Hạnh phúc sau. Ác ngữ mà chúng ta dùng với các bậc có giới đức cao thì tội càng nhiều.

Ác ngữ có ba chi là:

- Akkositabbo: có kẻ khác để ta chửi.

- Kumitacittam: tâm ta giận.

- Akkosanā: đã chửi rủa xong.

7. Lời nói vô ích: vì tác ý khiến cho thân, khẩu, theo những điều vô ích. Giới này có hai chi là:

- Muốn nói lời vô ích như chuyện vặt, chuyện tiểu thuyết.

- Đã nói những chuyện kể trên.

Khi người phạm vào hai chi trên thì là phạm vào tội nói lời vô ích. Về phần khẩu, giới nói dối có hai chi kể trên, nói chung lại là vọng ngữ.

8. Tham lam thái quá: có hai chi là:

- Parabhandam: của cải của người khác.

- Attano parināmānam: đã tìm thế đem những của cải về cho mình (dù cho mới tính quyết rằng ta sẽ đem của ấy về cho ta, thì cũng phạm vào chi này; trái lại, nếu ta muốn được của người nhưng tâm ta chưa quyết rằng ta chiếm cho kỳ được, thì chưa phạm hẳn giới này).

Về khoản này, giới cấm rất gắt, và phải gắt như thế mới có thể đưa tâm của người vào khuôn khổ được. Người tu muốn được giải thoát, cần phải có trí nhớ và công bằng để làm quan tòa xử tâm mình cho công minh, không thiên vị.

9. Oán thù: là ác tâm muốn tìm thế hại người, tìm mưu chước để làm mất lợi ích của người mà họ oán ghét. Oán thù có hai chi là:

- Parasatto: nhân vật khác.

- Tassavināsacinto: suy nghĩ để làm hại kẻ khác.

Sự oán thù sanh lên bởi lòng nóng giận. Khi nóng giận kẻ khác mà chưa có ý nghĩ hại người, thì chưa hẳn phạm tội này, chừng nào tâm đã quyết và đã lập kế hại người, mới phạm.

10. Tà kiến: sự hiểu biết sai lầm, trái với sự thật, gọi là tà kiến. Ấy là sự nhận thức trái với chân lý, ví dụ như tin tưởng rằng một khi đã phạm tội rồi, có thể yêu cầu kẻ khác rửa tội cho mình, hoặc chịu tội thế cho mình; tin rằng có kẻ khác cho ta phước, phạt ta phải chịu tội, chớ không tin rằng phước theo ta như bóng theo hình, thể hình cao thì bóng dài mà hình thấp thì bóng ngắn.

Tà kiến có hai chi là:

- Vatthuni gahitakāravipāritattā: tính cách của sự chấp điều sai với sự thật.

- Yathā ca tam banhāti tathābhāvena tassu-patthānam: chấp với tính cách hiểu lầm, những điều sai với sự thật, mà cho rằng đúng, không chịu bỏ.

Người tu tại gia cố tránh mười điều ác do thân, khẩu, ý tạo ra, đồng thời gắng hành mười điều thiện. Được như vậy, mới là đúng luật của con người tại gia.

LUẬT CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

Anāgārikavinaya: nếu dịch đúng theo Phạn ngữ là luật của người vô gia đình, mà người vô gia đình là xuất gia. Người xuất gia không được phạm một điều nào trong 227 điều luật. 227 điều ấy, gọi là Cụ túc giới. Nếu vị Tỳ khưu phạm đến, tùy theo điều sám hối được hay không thì hoặc bị phạt cấm phòng hay bị hoàn tục, nghĩa là bị trục xuất ra khỏi hàng Tăng già.

Cụ túc giới chia ra làm 7 phần:

- Parājika: bất cộng trụ.

- Sanghādisena: tăng tàng.

- Thullaccāya: tội trọng.

- Pācittiya: ưng xã đối trị.

- Patisesaniya: ưng phát lộ.

- Dukkata: tác ác.

- Dubbhāsita: ác ngữ.

Thầy Tỳ khưu phạm Bất cộng trụ thì bị trục xuất khỏi giáo hội. Phạm Tăng tàn phải bị cấm phòng, còn phạm vào năm điều sau thì có thể xin xám hối được.

Đừng nói chi đến sự phạm Bất cộng trụ và Tăng tàn, thầy Tỳ khưu phạm vào một điều nào của năm điều sau, tuy có thể xin sám hối được, mà lại quên không xin sám hối, thì điều tội ấy dù nhỏ, cũng ngăn con đường thiên đàng và Niết Bàn, như câu Phật dạy rằng: Sāpattissa bhikkhave niriyam vadāmi tiriccha nayonnyam, nghĩa là: Này thầy Tỳ khưu, Như Lai nói rằng địa ngục hay là súc sanh là cảnh giới dành để cho các thầy Tỳ khưu phạm giới.

Đây tôi xin nhắc sơ lược sự tích của một thầy Tỳ khưu, chỉ phạm một giới rất nhỏ mà quên sám hối, rồi phải bị đọa vào súc sanh.

Trong thời kỳ giáo pháp của Đức Phật Kassapa (Ca Diếp) có một thầy Tỳ khưu hành đạo trong rừng tám muôn năm, giới hạnh của thầy rất trang nghiêm. Ngày nọ, đi ghe theo sông Gangā (sông Hằng), tới chỗ nước chãy mạnh, ghe đi rất đổi mau, ông kinh sợ, níu một bụi tranh, mọc nơi bờ, rủi đứt bụi tranh; khi trở về tịnh thất, ông quên sám hối, tưởng đó là một tội nhỏ thôi. Khi sắp lâm chung, ông có cảm tưởng như có lá trành đến quào vào cổ ông. Chừng ấy ông muốn sám hối, nhưng rủi thay, trong lúc ấy không có một vị Tỳ khưu nào ở đó, để ông sám hối, nên ông rất ân hận rằng giới hạnh của mình của mình không được trong sạch. Rồi ông tắt hơi, sanh làm vị Long Vương tên Eraka-patti. Từ đời Đức Phật Ca Diếp đến thời Đức Thế Tôn hiện tại của chúng ta, ngài mới được thuyết pháp cho chúng sanh nghe, song ngài chỉ thọ tam quy và ngũ giới thôi vì còn mang xác thân súc sanh không thể đắc đạo quả được.

Vì lẽ ấy nên các thầy Tỳ khưu, vì dễ duôi hay vì không cố ý mà lỡ phạm vào một điều nào dù thật nhỏ, cũng nên sám hối liền, bằng không dù đạo hạnh cao và tinh tấn đến đâu, dù sắp được đắc quả, cũng bị trở ngại.

Bài kinh Akkhikhadhopamasutta có dạy rằng: Một lúc nọ Đức Thế Tôn có đi ngang qua xứ Kosala, trông thấy ở lề đường có một cây cổ thụ có hoa, và trong hoa, lửa đang cháy, xem thật ghê gớm và rất nguy hiểm cho thân cây. Đức Thế Tôn đem cây cổ thọ và lửa đang đốt nó làm ví dụ để thuyết một bài pháp thật dài, dạy các thầy Tỳ khưu về lửa phiền não bằng đốt thân tâm con người.

Trong khi nghe Đức Phật thuyết pháp, có 60 vị Tỳ khưu vi phạm vào 17 giới Bất cộng trụ mà giấu lỗi liền phát tâm ân hận, mữa máu tươi ra chết tại chỗ. Còn 60 vị khác phạm Tăng tàn nhưng cũng giấu lỗi, tự xét lấy mình phạm hạnh của Đức Phật dạy thật là cao quí, mà không thể hành được; suy nghĩ như thế rồi 60 vị ấy xin hoàn tục. Còn 60 vị nữa tự xét giới hạnh của mình thật trong sạch nên tâm thơ thới quán tưởng ba tướng (khổ, vô thường, vô ngã) nên đắc quả A La Hán.

Đến đây có lẽ có người muốn hỏi: "Nếu theo thời pháp của Đức Thế Tôn dạy chỉ có được 60 vị chết tại chỗ, và 60 vị hoàn tục, thì thời pháp ấy có kết quả lành ít mà tai hại lại nhiều, tại sao Đức Phật lại thuyết? Vậy lòng từ bi bác ái của ngài ở đâu?"

Chúng ta thấy gần nhưng không hiểu xa. Đức Thế Tôn hoàn toàn giác ngộ nên làm điều nào cũng rất chu đáo. Nếu Ngài không thuyết thời pháp ấy thì chư Tỳ khưu phạm Tăng tàn và Bất cộng trụ ấy tha hồ mà lợi dụng lòng tin tưởng của tín đồ. Đức Phật trong Tạng Luật đã sánh hạng Tỳ khưu ấy với một bọn cướp rất lợi hại, nhà chức trách không biết và không thể bắt được, vì bọn cướp ấy không có khí giới, mà người ta lại vui lòng giúp cho khí giới nữa. Thiện tín đâu biết ấy chính là các thầy Tỳ khưu phá giới nên dâng cúng bằng tất cả tấm lòng cung kính. Bởi vậy Đức Phật phải thuyết thời pháp ấy vì Ngài thương hại cho các vị Tỳ khưu, sợ càng giấu lỗi thì tội họ càng ngày càng nhiều, vì cướp của thiện tín thì càng bị đọa vào địa ngục. Còn 60 vị Tỳ khưu phạm Tăng tàn, sau khi hoàn tục, cố gắng hành theo hạnh người tại gia cũng có thể đắc đạo quả được dễ dàng. Hơn nữa, nếu Đức Phật không thuyết thời pháp ấy, thì các thầy Tỳ khưu ấy cũng làm thêm những điều chẳng lành, làm cho ngoại đạo hay biết chuyện chẳng hay ấy, họ chỉ trích Đạo Phật, làm cho Đạo Phật khó truyền bá mà có tội cho những người chỉ trích nữa. Vì vậy nên thời pháp mà Ngài thuyết rất là cao quí, vì lòng từ bi của một đấng Giác ngộ. Vả lại, thời pháp của Ngài chẳng hại gì cho các thầy Tỳ khưu, nhưng đó chẳng qua là cái quả tu hành không chân chánh, không đúng luật của bậc xuất gia.

Luật xuất gia còn gọi là luật của người vô gia đình, ngụ ý chỉ Tứ Thanh Tịnh Giới. Tứ Thanh Tịnh Giới ấy là:

- Pātimokkhasamvarasīla: Tàu âm là Ba La Đề Mộc Xoa, thu thúc giới, cũng gọi là cụ túc giới, là 227 điều mà thầy Tỳ khưu phải hành theo.

- Indrysamvarasīla: lục căn thu thúc giới.

- Ajīvaparisuddhisīla: chánh mạng thanh tịnh giới.

- Paccāyasaññissitasīla: quán tưởng thọ vật dụng thanh tịnh giới.

1. Ba La Đề Mộc Xoa thu thúc giới: là 227 điều giới cấm của bậc Tỳ khưu phải tuân hành theo cho thật trong sạch, dù một giới thật nhỏ cũng không cho phạm vào. Người tu phải luôn luôn trau giồi giới hạnh cho trong sạch, cũng như chỉ có một con mắt, hết sức lo trông nom săn sóc con mắt còn lại cho khỏi bị bệnh. Thầy Tỳ khưu biết thương yêu giới hạnh của mình, mặc dù chết chớ không cho phạm giới rất nhỏ, như thầy Tỳ khưu trong sự tích sau đây:

Có một vị Tỳ khưu đi hành đạo trong rừng, bỗng bị một bọn cướp bắt ngài cột bằng một dây bổ thảo, thứ cây như dây bình bát, rồi chúng bỏ giữa rừng, không cho ngài về thành, vì sợ ngài về mách với chánh quyền đến truy nã, chúng sẽ trốn không kịp, chớ không ác ý muốn giết hại ngài. Thầy Tỳ khưu ấy không dám làm đứt sợi dây, sợ phạm Ưng đối trị trong điều học làm hại thảo mộc. Thầy cam chịu bị cột và nhịn đói bảy ngày, gắng hết sức tham thiền, hết ngày thứ bảy đắc quả, chết được sanh về cõi Ngũ tinh Phạm thiên.

Nên có câu kệ ca tụng giới đức trang nghiêm rằng:

Patimokkam visodhento

Appeva jivitam jahe.

Pannāttamlokanāthena

Nabhinde sīlasamvaram.

Nghĩa là: "Hành giả có đức tin hành theo Ba La Đề Mộc Xoa được thanh tịnh; cố đủ can đảm bỏ mình, không chịu để phạm giới mà đức Lakanātha (Đấng Cứu Thế) đã giảng giải".

Xem đến tích này có lẽ các vị cảm động vì tư cách xử sự của vị Tỳ khưu ấy, mà cũng có vị cho rằng ngài câu nệ một giới quá nhỏ. Tôi xin bào chữa cho ngài như vầy: người như ngài thật là người biết yêu sự giải thoát. Ngài không còn làm nô lệ cho phiền não. Ngài thắng được cái ý nhơ nhớp là không biết ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi nên ngài đã giải thoát. Riêng chúng ta còn là nô lệ phiền não và vẫn còn chưa kinh sợ khổ não của sự sanh tử luân hồi.

Gương sáng ấy, chẳng những hàng xuất gia mà hàng cư sĩ phải noi theo để gìn giữ giới hạnh của mình được tinh khiết và nâng cao trình độ của tinh thần mình trên đường giải thoát.

2. Lục căn thu thúc giới: thầy Tỳ khưu muốn được lục căn thu thúc được thanh tịnh, thì trước nhất phải biết quả báo cao thượng của sự thu thúc và tai hại của sự buông lung.

Đức Phật có dạy hai điều ấy trong đoạn kinh Pathasangeyyasutta rằng có 6 nơi sanh ra cảm xúc là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thầy Tỳ khưu gìn giữ 6 nơi ấy cho cẩn thận thì sẽ được an vui, bằng không thì sẽ khổ tâm bực tức.

Trong bài kinh Adittaparyāyasutta, Đức Phật có dạy rằng các thầy Tỳ khưu dùng miếng sắt thật bén, móc vào con mắt cái, nạo thật bén, nạo lỗ tai, lưỡi dao thật bén cắt lỗ mũi, lưỡi, thân này thu nạp cảnh trần vào tâm cho rằng đó là đẹp, thơm, ngon, mềm dịu và vui sướng. Thọ những vui sướng trong trần dục ấy, khi chết thầy Tỳ khưu chắc chắn đi về một trong bốn đường ác.

Hơn nữa, trước trần dục ấy thà ngủ quên đi còn hơn, vì ngủ quên đi chỉ là một tội nhỏ hơn khi thức mà thầy Tỳ khưu suy nghĩ quấy lâu ngày sẽ dẫn thầy Tỳ khưu ấy đi vào con đường tội lỗi. Đức Phật đã xét một cách vi tế đến tâm lý, nên cấm tới việc suy nghĩ, chớ không phải chỉ cấm hành động.

Vậy, không riêng gì bậc xuất gia, mà hàng tại gia cư sĩ cũng phải noi theo bài kinh này là lo thu thúc lục căn. Người không thu thúc lục căn thường bị mất lợi và thường bị tai hại trong kiếp này như sự tích sau đây:

Khi xưa, có nhiều trừu ở trong một hang núi gần rừng Tuyết Lãnh, trong bầy ấy có một con trừu cái rất là khôn ngoan tên là Mandamātā. Gần hang ấy có một hang khác, hai vợ chồng sói ở, sói đực tên Pūtimansa, sói cái tên Veni, thường bắt trừu ăn, bầy trừu sợ nên kéo nhau đi xa. Vợ chồng sói bắt không được thịt, sói đực mới bàn với vợ: "Nàng hãy tìm làm quen với con trừu cái Mandamātā. Khi đã thân thiện, nàng sẽ than với trừu rằng: chồng tôi đã chết nên tôi không còn thân thuộc nào cả, chỉ có một mình bạn thôi, vậy xin bạn hãy đến giúp tôi an táng chồng tôi. Khi trừu Mandamātā đến, tôi sẽ vật nó để chúng ta ăn thịt."

Sói cái y lời, rủ mãi mới đem trừu cái về được. Trừu cái luôn luôn cảnh giác việc bất trắc, chó sói giả bộ chết, khi nghe tiếng vợ về, sợ không rủ được trừu cái, và ngóc đầu lên xem. Trừu cái thấy mình trúng kế, lật đật bỏ chạy về rất mau, sói cái giận mắng chồng rằng:

Tavam khosi samma ummatto dummedho avicakkano yo tvam matālayam katvā akāleva vippekkhti.

Nghĩa là: "Ông bạn! Là người khùng, tính quấy; không có trí tuệ suy xét, đã giả chết mà còn ngóc đầu lên xem, không hợp thời".

Đức Thế Tôn kết luận tích này bằng câu kệ:

Na akāle vipekkheyya

Kāle pekkheyya pandito

Pūtimansova jhāyati

Yo akāle vipekkhati

Nghĩa là bậc trí thức không nên xem sắc trong lúc không nên xem, mà phải nên xem cho kịp thời. Người xem không hợp thời sẽ thất vọng buồn khổ như sói Pūtimansa vậy.

Đây là cái tai họa không thu thúc lục căn. Vậy người tại gia cũng như người xuất gia nên gắng thu thúc lục căn.

3. Chánh mạng thanh tịnh giới: Chánh mạng thanh tịnh giới mà được trong sạch là do nhờ sự cố gắng nuôi mạng chân chánh y theo lời Phật dạy trong bài kinh Mahāsatipatthanasutta rằng: "Này các thầy Tỳ khưu, thế nào là cố nuôi mạng chân chánh? Này các thầy Tỳ khưu, hàng thinh văn đệ tử trong Phật giáo, cố dứt tà mạng và nuôi mạng chân chánh. Các thầy Tỳ khưu này, thầy Tỳ khưu hành như thế mới gọi là nuôi mạng chân chánh".

Chú giải có giải thêm rằng: Tà mạng mà Phật đề cập đến, là phương pháp bất chánh mà thầy Tỳ khưu không nên dùng đồ tứ vật dụng, được người dâng cúng mà Đức Phật gọi là Tà mạng, gồm có 26 điều là:

- Giả làm các tề chỉnh.

- Giả làm các vui vẻ.

- Nói ướm.

- Giả bộ dọa hăm.

- Được nơi này đem cho nơi khác.

- Cho trẻ.

- Cho lá cây.

- Cho bông hoa.

- Cho cây xỉa răng.

- Cho trái cây.

- Cho nước rửa mặt.

- Cho vật để tắm (xà bông).

- Cho vật thoa dồi (khi xưa Đức Phật cho phép các thầy Tỳ khưu có dầu để thoa thân trong mùa mưa rét, cho khỏi nứt da).

- Cho đất của Tăng.

- Tôn kính kẻ thế.

- Thật ít, dối nhiều.

- Giữ con cho người.

- Làm tay sai cho người.

- Làm thầy thuốc cho người.

- Đem tin cho người.

- Chịu cho người điều khiển.

- Đem cơm đã khất thực được để cho người (không phải cha mẹ) ăn trước, còn mình để khất thực lần thứ nhì mà ăn.

- Cho đi cho lại

- Xem thiên văn địa lý.

- Xem ngày tháng sao hạn.

- Xem tay, tướng và thai cho đàn bà.

Trong 26 điều tà mạng kể trên có điều thuộc về thân, có điều thuộc về khẩu, thầy Tỳ khưu nào có lòng tham muốn lợi lộc để nuôi mạng mà hành theo 26 điều kể trên, hoặc một trong 26 điều cũng gọi là tà mạng.

Các bậc thánh nhân thà chết chớ không bao giờ để phạm vào tà mạng. Tôi xin nhắc lại tích của Đức Xá Lợi Phất.

Một ngày nọ Đức Xá Lợi Phất đau bụng. Đức Mục Kiền Liên thấy vậy mới hỏi: "Khi sư huynh chưa xuất gia, mấy cơn đau bụng như thế này, uống thuốc chi mới mạnh?". Ngài đáp: "Ăn cơm đề hồ (cơm nấu với sữa tươi) thì mạnh".

Có một vị Chư thiên được nghe lời ấy, nên hiện đến mách với bà thí chủ của Đức Xá Lợi Phất. Bà liền nấu cơm đề hồ dâng bát cho Đại đức Mục Kiền Liên, Đức Mục Kiền Liên đem về cho ngài Xá Lợi Phất vì ngài nói phải ăn cơm đề hồ mới mạnh. Đức Xá Lợi Phất từ chối hẳn, không chịu thọ thực. Đức Mục Kiền Liên yêu cầu mấy lượt, Đức Xá Lợi Phất trả lời: "Ruột của tôi mà có đứt ra từng đoạn và nó có thể chun ra và bò như rắn trên mặt đất đi nữa, tôi cũng không thọ thực món ăn này, vì tôi đã nhắc đến nó đêm hôm qua". Rồi ngài nhất định không thọ thực món ấy.

Theo Luật, dù Đức Xá Lợi Phất có thọ cũng vô tội, song các bậc thánh nhân thọ trì giới luật rất chân chánh và vì vậy, rất đáng làm gương cho hàng hậu thế. Các bậc xuất gia nên noi theo gương cao cả ấy, cố giữ mình đừng cho phạm vào 26 điều tà mạng.

4. Quán tưởng thọ vật dụng thanh tịnh giới: nghĩa là khi thọ lãnh, khi dùng, lúc đang dùng và khi dùng xong vật dụng của đàn na thí chủ dâng cúng, thầy Tỳ khưu phải quán tưởng theo những lời trong bài kinh Quán tưởng bằng Phạn ngữ; nếu không hiểu Phạn ngữ thì cần học hiểu bằng tiếng mẹ đẻ để lãnh hội ý nghĩa của kinh, để ngăn ngừa không cho tâm duyên theo trần tục.

Từ khi Đức Phật thành đạo đến 15 năm sau, các đệ tử của ngài là các bậc thánh nhân, bằng chẳng vậy cũng toàn là các vị Tỳ khưu biết yêu kính giới hạnh của mình, nên các ngài không xao lãng về quán tưởng. Về sau, có các vị Tỳ khưu không quán tưởng vật dụng của thí chủ dâng cúng, Đức Thế Tôn biết thế mới dạy rằng: "Này các thầy Tỳ khưu, tứ vật dụng mà các thầy dùng cần phải quán tưởng trước rồi sẽ dùng sau".

Đức Thế Tôn bèn dạy thêm rằng: "Các thầy Tỳ khưu thọ thực tứ vật dụng của người cúng dường mà không quán tưởng cũng như thọ thuốc độc".

Thầy Tỳ khưu không nên dễ duôi mà suy nghĩ rằng: "Vật dụng này của con ta, em ta, chị ta, anh ta, cha mẹ ta, ta không cần quán tưởng cũng được, vì nếu ta không xuất gia, những người này vẫn cho ta như thường". Vị Tỳ khưu khi đã xuất gia không còn gia đình, mà la người đã thuộc vào hàng Tăng lữ, nhằm mục đích giảithoát mà thôi, không còn có quyến thuộc như người thế tục.

Vì Đức Thế Tôn có dạy rằng: "Thầy Tỳ khưu ăn cục sắt nướng đỏ còn hơn là thọ vật thực của thí chủ dâng cúng, nếu giới hạnh mình không trong sạch và khi họ thọ không lo quán tưởng."

Nơi đây tôi xin nhắc lại lời nói của ông Sa di:

Bhāgineyyasangherakkhita:

Upajjhāyo mambhunjamānam sālikuram sambhutam.

Sabba savaparrikkhīno natthidāni punabbhavo.

Nghĩa là tôi đang ăn cơm với Sa di rất ngon, rất mát, thầy tế độ tôi mới kêu tôi mà dạy rằng: "Này Sa di, người không nên tự đốt cháy lưỡi người vì không quán tưởng". Tôi nghe lời ấy lấy làm kinh sợ, tôi đắc quả A La Hán, khi còn đang ngồi chỗ ấy (nhờ sự kinh sợ và lo quán tưởng, nên đắc được quả ngay khi ấy). Tôi suy nghĩ rốt ráo như trăng trong ngày rằm, tôi đã hết phiền não, sẽ không còn sanh lại nữa.

Vì vậy nên có câu kệ:

Tasmā annopi dukkhassa

Patthayanto parikkhāram

Yoniso paccavekkhitvā

Patisevethapaccave.

Nghĩa là: Bởi vậy các bậc hành giả muốn đi đến nơi dứt khổ, phải dùng trí tuệ quán tưởng vật dụng trước rồi thọ thực sau.

(Trên đây chỉ giải tóm tắt về luật xuất gia thôi, không thể giải đầy đủ hơn, vì ngoài phạm vi của quyển sách này. Vậy muốn hiểu nhiều về Luật Xuất Gia, xin xem quyển Luật Xuất Gia của ngài Hộ Tông để hiểu nhiều thêm. Nhất là nên học cho biết rõ về tà mạng của thầy Tỳ khưu, hầu để biết rõ về sự hành động của người thay thế Đức Cha Lành).

 

 

HẠNH PHÚC X

Subhāsitā ca yā vācā
Người nói lời ngay thật (chân thật)

 

Phạn ngữ Subhāsitā thật là khó dịch cho đúng nghĩa với Việt ngữ. Vì tiếng Subhāsitā có nhiều ý nghĩa như sau đây: lời nói ra không hại người và cũng không hại mình (người nói), lời nói đem sự lợí ích cho người và cho mình, lời nói ấy không làm cho người nghe bị khó chịu (ý nói là lời dịu ngọt và hợp thời). Thiết tưởng có thể tạm dùng tiếng "Cam ngôn mỹ từ" để dịch tiếng Phạn ấy.

Đức Thế Tôn có dạy trong bài kinh Subhāsitā rằng: "Này các thầy Tỳ khưu, lời nói nào có đủ bốn chi, lời nói ấy mới gọi là lời Subhāsitā, lời nói ấy không có một ai chê được, không có tội lỗi. Lời nói có đủ bốn chi ấy là thế nào? Này các thầy Tỳ khưu, các thầy là người tu Phật, nên nói đúng bốn chi là:

1. Nên nói lời Subhāsitā (chân thật), không nói lời giả dối.

2. Nên nói pháp, không nên nói ngoài pháp.

3. Nói những lời mà người ưa thích, yêu mến, không nên nói lời mà người ta ghét bỏ.

4. Nói lời thành thật, không nói lời hoang đàng.

Thầy Tỳ khưu nói đúng theo bốn chi trên, mới gọi là Subhāsitā (chân thật)."

Theo lời giải Tikā của Saccakammadvārakatha thì người nói đúng bốn chi sau đây mới gọi là Subhāsitā:

1. Không nói đâm thọc.

2. Không nói hoang đàng.

3. Không nói lời hung ác.

4. Không nói dối.

Đức Phật có dạy: Người hằng nói dối, nói đâm thọc, nói vu vơ, nói hung ác, sẽ bị sanh vào bốn đường ác. Vì đó không phải là Subhāsitā.

Lời chú giải Atthasālinī về khẩu nghiệp có dạy: Thầy Tỳ khưu nói đúng theo bốn chi này gọi là nói lời Subhāsitā (nói ngay thật), không nói lời đê tiện, mà nói lời vô tội, và nói lời mà các bậc trí thức ngợi khen.

Để chúng ta nhận thức thế nào là lời Subhā-sitā, Đức Phật có dạy trong kinh Subhāsitasutta rằng: "Này các thầy Tỳ khưu, lời nói nào có đủ năm chi gọi là lời nói chân thật Subhāsitā. Năm chi ấy là gì? Năm chi ấy là:

1. Nói hợp thời.

2. Nói chân thật.

3. Nói lời dịu ngọt.

4. Nói lời có ích.

5. Nói lời đầy vẻ từ bi.

Này các thầy Tỳ khưu, lời nói có đủ năm chi ấy được các bậc trí thức hằng ngợi khen."

Thiết tưởng cần giảng giải năm chi kể trên cho rõ, như sau đây:

1. Kālena ca bhāsitā hoti: lơi nói hợp thời. Người ở đời muốn nói một chuyện gì, cần phải xem coi cảnh ngộ có thuận tiện cho mình nói hay không. Lắm khi nói sự thật mà sai, thời có hại đến cho mình, như tích của con rùa và hai con hạc kể đây:

Xưa kia có con rùa ở một cái ao trong rừng gần thành Bārānasī. Mỗi ngày có một cặp hạc đến ao kiếm ăn. Rùa và hạc lâu ngày làm quen nhau và trở nên bạn thân. Rùa mới hỏi thăm chỗ ở của hạc, biết hạc ở rừng trên núi Hy Mã Lạp Sơn. Rùa muốn viếng xứ bạn mà ngại đường xa, mới nghĩ ra một kế đem ra bàn với cặp hạc. Cặp hạc ngậm hai đầu của một khúc cây để rùa ngậm ở giữa, cặp hạc bay đi, thì mang rùa đi. Cặp hạc bằng lòng và căn dặn rằng: "Khi nghe thấy gì lạ anh cũng chẳng nên nói, hỏi chi cả." Rùa chịu. Nhưng khi hạc bay ngang qua thành Bārānasī, trẻ con thấy lạ mới la lên rằng: "Coi con rùa biết bay". Rùa ta quyết cải chánh rằng nó được hai bạn khiêng, chớ có bay được đâu, nhưng vừa hé miệng, nó liền té rơi xuống đất, chết ngay trước mặt nhà vua và vị quân sư.

Vị quân sư thừa dịp chỉ và nói với vua rằng: "Người nói không tùy thời thì thường bị tai hại như vậy". Sau khi nhắc sự tích này xong. Đức Thế Tôn dạy rằng vị quân sư ấy là tiền thân của Ngài, tùy phương tiện nhắc nhở nhà vua hãy nói cho hợp thời.

Chúng ta nên xem gương này mà răn mình. Đừng nói những việc không nên nói, nên nín thinh trong trường hợp nên nín thinh, dù cho mình biết rằng nói ra là được hơn người. Nói hơn người mà không hợp thời, thì lời nói ấy cũng trở thành vô ích. Như chúng ta thấy rùa muốn sự thật, nhưng không hợp thời nên bị hại. Tôi còn nhớ câu phương ngôn Bắc Phạn dạy: "Câm đi còn hơn nói không hợp thời".

2. Saccā ca bhāsirā hoti: lời nói chân thật. Lời nói chân thật có hai: một là ta làm điều nào, nói điều ấy, không nao lòng vì tai hại có thể đến ta, vì ta nói sự thật, vậy là không nói dối; hai là nói lời chân thật, tức là nói pháp Tứ Diệu Đế.

Đức Thế Tôn có dạy: Sự chân thật có, mà không có mấy ai nhận thấy. Ý ngài muốn dạy rằng đời đầy đau khổ, nào già, nào bệnh, nào chết, chúng sanh ở trong những cảnh già, bệnh và chết, mà không nhận rằng mình già, bệnh, chết, trái lại cứ tìm phương thế che đậy cái già, hoặc dễ duôi. Chúng sanh chìm đắm trong khổ não mà đa số không nhìn nhận sự thật là như thế, đúng như lời dạy của Đức Thế Tôn.

Đức Phật thuyết tất cả tám muôn bốn ngàn pháp môn, toàn là lời chân thật, tức là chân lý, cho nên đến ngày nay vẫn còn giá trị nguyên vẹn và rất có nhiều các bậc học thức uyên thâm, quan tâm khảo cứu để học và hành theo. Quả là đúng theo câu của Đức Thế Tôn dạy: Saccam ve amattavācā - Lời nói chân thật là lời nói bất diệt.

3. Sanhā ca vācā: lời nói dịu ngọt. Lời nói dịu ngọt là lời nói không cộc cằn, không làm cho người nghe khó chịu. Người nham hiểm, không mắng chửi, nói như mật, mà ý nghĩa mỉa mai làm nhức óc người nghe, lời nói ấy không gọi là lời nói dịu ngọt. Bao giờ lời nói dịu ngọt êm ái, mà ý nghĩa lời nói không làm cho người nghe phải khó chịu, phiền khổ, thì lời nói ấy là lời nói chân thật.

Trên đời này không ai ưa lời thô bỉ, chẳng ai ưa bị mắng nhiếc và bị chọc tức. Lời nói thô bỉ, mắng nhiếc sẽ có ảnh hưởng tai hại đến người nói như tích dưới đây:

Tại xứ Takkasīlā, một thầy Bà la môn có một con bò đực tên Nandavivāla, thầy thương như con. Bò lớn lên, cảm mến ơn đức của thầy Bà la môn mới nói rằng: "Thầy hãy đi đánh cá với ông trưởng giả như vầy: Bò tôi có thể kéo một trăm cổ xe chở đầy đồ. Vậy tôi đánh cá với ông." Thầy Bà la môn y lời và ông trưởng giả ưng thuận đánh cá với số tiền cá là một ngàn đồng. Bắt ách con bò xong, Thầy Bà la môn mới hét to lên: "Con bò chết bầm, hãy kéo đi." Bò Nandavivāla nghe lời thô bỉ ấy thối chí không kéo xe nổi. Thầy Bà la môn thua cuộc, về nhà buồn rầu, con bò thấy thế mới nói rằng: "Thôi bây giờ Thầy hãy cá gấp đôi, nhưng đừng dùng lời thô bỉ với tôi nữa." Thầy Bà la môn y lời. Bắt ách xong, thầy đến vuốt ve bò Nandavivāla và nói rằng: "Con ơi, con gắng kéo xe cho cha, không thì khổ cho cha lắm". Bò nghe lời dịu ngọt như thế, phấn khởi trong lòng kéo trăm cổ xe đi dễ dàng. Thầy Ba la môn thắng cuộc.

Đức Thế Tôn nhắc xong tích này mới dạy rằng: Bò Nandavivāla là tiền thân của Ngài. Rồi Ngài thuyết rằng "Này các thầy Tỳ khưu, đã gọi là thô bỉ, thì không ai ưa." Rồi ngài ngâm câu kệ.

Nanunnameva bhāseyya

Nāmunnam khdañcanam

Dhananca namalabhesi

Tena cittamano ahuti

Nghĩa là bao giờ ta cũng nên nói lời cho người khác vừa lòng, không nên nói lời làm phật lòng người khác. Khi thầy Bà la môn nói dịu ngọt vừa lòng con bò Nandavivāla, bò kéo nổi xe nặng giúp thầy được cuộc.

Tích này cho thấy rằng: loài thú, nó còn không ưa thích lời thô bỉ cộc cằn thay, vậy ta không nên dùng lời thô bỉ bất cứ với ai, ta nên dùng lời dịu ngọt. Lắm lúc có người sẵn sàng giúp ích cho ta mà khi nghe ta nói lời không vừa lòng họ không giúp ta.

4. Atthasanhitā ca bhāsitā hoti: lời nói lợi ích. Lời nói lợi ích trái với lời nói vô ích, lời nói vô ích chỉ làm mất thời giờ mà chẳng lợi lộc cho ai, còn lời nói lợi ích là lời nói nào đem lại sự an vui cho người trong hiện tại và vị lai, mà không hại kẻ khác, không hại mình (là người nói).

5. Mettācittena ca bhāsitā hoti: lời nói đầy vẻ từ bi. Lời nói đầy vẻ từ bi là lời nói không tự ý biếm nhẻ, xuyên tạc mà lời nói thể hiện tấm lòng không thù nghịch oán ghét, cũng không vì tư lợi.

Vậy, tiếng Subhāsitā phải có đủ năm chi vừa giải ở trên. Lời nói thiếu một chi nào trong năm chi ấy không gọi là lời Subhāsitā (chân thật, ngay thật).

Muốn cho dễ nhớ, tôi xin tóm lược dưới đây:

- Đúng thời mới nói (Kāla).

- Chân thật (Sacca).

- Dịu ngọt (Sanha).

- Có lợi ích (Atthasanhita).

- Tác ý lành (Mettā).

Vậy, lời ngay thật phải có tác ý lành, nội dung nói lành và hợp hoàn cảnh và còn phải vừa với trình độ và tâm lý người nghe. Lời nói có tác ý lành có nội dung lành và hợp hoàn cảnh mà không vừa với người nghe, còn có thể bị hiểu lầm, bị xuyên tạc và có thể gây oán chuốc hờn.

Vậy, chúng ta là Phật tử chân chánh nên học hành theo năm điều Đức Phật dạy để tránh oan trái oán thù, mặc dù không hoàn toàn tránh khỏi hết được, nhưng cũng giảm đi rất nhiều. Sự nói cũng thuộc về một nghiệp nặng, gọi là khẩu nghiệp và khẩu nghiệp ấy cũng do nơi tác ý; vậy, trước khi nói, ta nên nghĩ đến tác ý của ta đã.

Lời chân thật đem đến cho ta những hạnh phúc là:

1. Lời nói chân thật thuộc về thập thiện, nguyên nhân sanh phước.

2. Lời nói chân thật là đại phúc, khiến con người được an vui trong kiếp này và vị lai.

3. Lời nói chân thật sẽ đem lợi lộc, quyền chức, giàu sang, quyến thuộc và bạn lành.

4. Lời nói chân thật làm cho người bên ta đều tin tưởng nơi ta.

5. Lời nói chân thật làm cho người hạnh phúc từ bậc thấp là trời, người, đến bậc cao là Niết Bàn.

6. Lời nói chân thật đem lại cho người tất cả các sự hạnh phúc mà người ước mong.

7. Người hành theo lời chân thật là người đi theo đường của chư Phật.