Giới thiệu & Giảng giải Luật tạng
Luận về con đường giải thoát
10/07/2554 14:17 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng

Quyển thứ 7

Phẩm 8.4: Hành Môn

Hỏi rằng: Thế nào là niệm An Ban? Tu cái gì? tướng gì? Vị gì? Xứ gì và công đức như thế nào? Vì sao phải tu hành?

Đáp rằng: An nghĩa là nhập; Ban nghĩa là xuất. Ở nơi xuất nhập nầy là tướng. Niệm kia tùy theo niệm và chánh niệm. Đây gọi là niệm An Ban. Tâm trụ chẳng lọan, nghĩa là tu; làm cho An Ban khởi tưởng là tướng; xúc, tư duy là vị. Lấy đọan giác làm xứ. Công đức ấy là gì? Nếu người tu hành niệm đến An Ban sẽ trở thành tịch tĩnh, trở thành thắng diệu và thành trang nghiêm, dễ được tự vui. Nếu nhiều việc ác khởi lên, chẳng có thiện pháp thì làm cho diệt trừ. Thân nầy trở nên chẳng giải đãi; mắt lại cũng chẳng lười biếng; thân trở nên chẳng giao động; tâm cũng trở nên chẳng giao động; làm cho đầy đủ Tứ Niệm Xứ; làm cho đầy đủ Thất Giác Ý; làm cho đầy đủ giải thóat. Chỗ Đức Thế Tôn ca tụng; chỗ các vị Thánh dừng nghỉ. Chỗ các vị Phạm Hạnh trụ lại. Chỗ Đức Như Lai an trụ.

Vậy phải tu cái gì?

Với người mới tọa thiền; hoặc trải qua nơi A Lan Nhã; hoặc ở dưới gốc cây; hoặc ở nơi yên lặng; ngồi kiết già, thân ngay nhìn thẳng. Người ngồi thiền khi hơi thở vào và nhớ khi hơi thở ra. Khi hơi thở ra nếu dài, thì ta nhớ đến hơi ra dài; cứ như thế mà biết. Nếu hơi thở vào sâu, thì ta nhớ đến hơi thở vào sâu. Cứ như thế mà rõ biết. Nếu hít vào hơi ngắn thì ta biết hơi vào ngắn. Cứ như vậy mà biết. Nếu hơi thở ra ngắn thì ta biết hơi thở ra ngắn. Như thế mà biết.

Khi hơi thở vào, như thế ta biết. Khi hơi thở ra, như thế ta biết. Đây là chỗ tri hỷ, tri lạc, tri tâm sở hành. Làm cho các hành động của tâm mất đi, làm cho tâm hoan hỷ, sai khiến dạy dỗ tâm. Làm cho tâm giải đãi thấy được vô thường, thấy được chỗ chẳng mong cầu. Thấy được sự mất mát, thấy sự lìa khỏi; như thế mà biết. Thấy sự xa rời, ta thở ra, như thế mà rõ. Thấy sự xa rời, ta hít vào, như thế mà biết. Đối với việc nầy, ngay tức khắc làm cho được an. Nghĩa là sự nhớ nghĩ ấy trụ nơi lỗ mũi; hoặc ở nơi cửa miệng mà hơi thở ra vào làm nơi nương tựa. Người ngồi thiền kia lấy làm an ổn nhớ nghĩ nơi nầy.

Khi hơi thở vào, hơi thở ra ở nơi mũi hoặc miệng, lấy sự nhớ nghĩ mà quán về xác; hoặc hiện tại nhớ nghĩ làm cho hơi thở vào; hoặc hiện tại nhớ nghĩ làm cho hơi thở ra. Ngay lúc ấy hơi thở vào chẳng tác ý và lúc thở ra lại cũng chẳng tác ý. Đây là chỗ tiếp xúc của hơi thở ra vào; nơi lỗ mũi; nơi môi miệng, lấy niệm quán để biết chỗ tiếp xúc. Hiện tại biết làm cho hơi vào; hiện tại biết làm cho hơi ra. Như người cưa cây nương vào cái sức của cưa, lại chẳng tác ý cưa, đến đi.

Như người tọa thiền đối với hơi thở vào ra lại chẳng tác ý. Tưởng đến hơi thở vào ra, chỗ tiếp xúc với mũi và môi miệng, lấy sự chú tâm mà quán để biết; hiện đang nhớ đến và làm cho hơi thở vào. Hiện đang nhớ đến và làm cho hơi thở ra. Nếu người tọa thiền, đối với việc vào ra của hơi thở nầy mà tác ý, thì trong ngoài tâm nầy sẽ trở nên lọan động. Nếu tâm khởi lọan thì thân và tâm nầy trở thành giải đãi giao động. Đây là việc lo lắng. Nếu hơi thở quá dài hay hơi thở quá ngắn chẳng nên tác ý. Nếu chỗ tác ý ấy vì quá dài hay quá ngắn của hơi thở thì thân và tâm nầy trở thành giải đãi giao động. Đây là điều đáng lo. Bởi vì hơi thở ra vào có nhiều tướng khác nhau vậy. Chẳng nên tác ý dính mắc vào. Nếu như thế mà tâm tác ý nương vào thì sẽ thành lọan. Nếu tâm lọan thì thân và tâm nầy tất cả đều giải đãi giao động. Như thế rồi sự sai trái ấy không có ngằn mé. Khởi lên hơi thở ra vào rồi lấy vô biên xúc và nên tác ý tưởng như thế thì tâm nầy chẳng lọan. Nếu tâm trì hoãn; nếu tâm sinh tật, chẳng phải siêng năng. Nếu cố làm cho sự trì hoãn ấy tinh tấn lên, thành ra giải đãi buồn ngủ và nếu làm cho tâm sinh tật kia tinh tấn lên mà thành ra sự khởi động điều phục. Nếu người tọa thiền mà sự giải đãi buồn ngủ cùng khởi lên một lúc và sự điều phục cùng khởi lên thì thân và tâm nầy thành giải đãi giao động. Đây là sự quá hoạn (lo lắng).

Người tọa thiền kia lấy chín lọai tiểu phiền não làm cho tâm thanh tịnh và hiện nhớ đến hơi thở vào. Tướng kia được khởi lên. Đây gọi là danh tướng. Như vải chạm vào thân thành ra niềm vui; như gió mát chạm vào thân thành vui. Như thấy hơi thở vào ra chạm với gió. Mũi, môi, miệng nhớ nghĩ đến gió, chẳng phải do hình sắc. Đây gọi là tướng.

Nếu người tọa thiền lấy Tu Đa Tu làm tướng thành tăng trưởng và nếu ở mũi tăng trưởng thì đối với giữa môi và giữa trán; thành đa xứ trụ; thành mãn đầu phong. Từ nơi tăng trưởng nầy mà toàn thân vui hơn. Đây gọi là đầy đủ.

Lại cũng có người tọa thiền, từ lúc ban đầu thấy dị tướng như khói, như sương, như bụi, như bột vàng; giống như kim chích, như kiến bò; thấy đủ màu sắc. Nếu người tọa thiền tâm chẳng rõ ràng thì đối với dị tướng kia, tâm tạo ra tưởng khác và thành ra điên đảo; chẳng thành tưởng đến sự ra vào của hơi thở. Nếu người tọa thiền rõ ràng rồi, chẳng tạo ra ý tưởng khác; nhớ nghĩ hiện tại hơi thở vào và nhớ nghĩ hiện tại hơi thở ra; tuy tác dư tưởng. Nếu tác ý như thế thì dị tướng kia liền mất. Người tọa thiền nầy được tướng vi diệu, tâm chẳng phóng dật; hơi thở vào trong hiện tại thì nhớ hơi thở vào; hơi thở ra trong hiện tại thì nhớ hơi thở ra. Tướng kia tự tại. Dùng tướng tự tại ấy muốn khởi lên chỗ tu hành. Do dự muốn tự tại mà nhớ đến hơi thở vào trong hiện tại và nhớ hơi thở ra trong hiện tại, khơi lên niềm vui, vui rồi tự tại. Sự mong muốn tự tại rồi, nhớ nghĩ hơi thở vào trong hiện tại; nhớ nghĩ hơi thở ra trong hiện tại khởi lên xả. Xả tự tại rồi thì với dục tự tại và hỷ tự tại, nhớ đến hơi thở vào trong hiện tại; nhớ đến hơi thở ra trong hiện tại, tâm nầy chẳng loạn động; nếu tâm không lọan động thì các sự che khuất mất đi và các phần của Thiền khởi lên. Kẻ tọa thiền nầy được tịch diệt thắng ở vào Tứ Thiền Định. Như ban đầu đã nói rộng. Lại nữa như trước Ngài đã nói về 4 lọai tu niệm An Ban. Cho nên tùy theo đó mà an trí các việc quán.

Hỏi rằng: Vì sao gọi là toán?

Đáp rằng: Đối với người mới tọa thiền, từ khi mới bắt đầu thở ra và cho đến lúc hít vào, từ 1 đến 10; hơn 10 chẳng tính. Lại nói từ 1 đến 5; quá 5 chẳng tính; chẳng làm cho ý sai trái. Lúc đang đếm cho đến lúc lìa đếm. Từ khi việc hơi thở ra nhớ giữ lại. Đây gọi tên là Toán. Tùy theo đó mà nhiếp tâm vào sự đếm, lấy niệm chẳng gián đoạn, tùy theo đó mà hơi thở ra vào. Đây gọi là tùy toại, cũng còn tên là an trí; hoặc nơi mũi, hoặc nơi môi. Đây gọi là hơi thở ra vào chỗ tiếp xúc. Đối với sự tạo ra gió kia, tướng ấy làm cho sự nhớ nghĩ trụ lại. Đây gọi là an trí, lại có tên là tùy quán. Do xúc tự tại và tùy theo tướng quán và đối với chỗ khởi hỷ lạc nầy so với pháp khác, nên tùy theo đó mà quán. Đây gọi là tùy quán. Sự tính đếm kia biết mất thì làm cho được lìa quán. Tùy toại nghĩa là làm cho diệt thô quán. Đối với hơi thở ra vào làm cho niệm vô