Thiền học
Chín Yếu Tố Phát Triển Thiền Quán
Thiền sư Kundalàbhivamsa Việt dịch: Tỳ kheo Thiện Minh, 1998
13/10/2554 08:27 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng


Lời Bạt

 

 

Ngày nay thiền Vipassanà không còn dành riêng cho các thiền viện nghiêm mật thuộc các nước Phật giáo Nam Tông (Theravàda) như Myanmar, Sri Lanka v.v... mà đã lan rộng hầu như khắp nơi trên thế giới. Nhiều trung tâm thiền Vipassanà đã được thành lập dưới nhiều hình thức khác nhau và hoạt động rất tích cực ở châu Âu cũng như châu Mỹ. Vipassanà đã thu hút đông đảo giới trí thức phương Tây nhờ tính chất trong sáng, giản dị và khoa học của thiền này.

Thiền Vipassanà chẳng những trực tiếp đưa đến cứu cánh giác ngộ mà còn là phương pháp trị liệu rất hữu hiệu cho những căn bệnh thể chất lẫn tinh thần, nên giới y học phương Tây đã tích cực nghiên cưú và áp dụng lâm sàng tại các trung tâm điều dưỡng của họ. Nhiều tường trình trên báo chí, đài truyền thanh, truyền hình đã công bố kết quả kỳ diệu của phương pháp trị liệu này, nhất là một số ca bệnh nan y.

Mặt khác, thiền Vipassanà không những vượt qua mọi ranh giới dị biệt giữa các tông phái Phật giáo - chẳng hạn như nhiều trường phái Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông, Mật Tông v.v... Ở Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản v.v... ngày nay đều áp dụng thiền Vipassanà như là yếu tố cho pháp môn riêng của mình mà còn thâm nhập vào những sinh hoạt của các tôn giáo khác như Ky-tô giáo, Ấn Ðộ giáo v.v... chẳng hạn như hàng ngàn vị linh mục ở Pháp, Anh, Ðức, Mỹ v.v... đã mời các vị thiền sư Myanmar đến hướng dẫn những khóa thiền Vipassanà tại giáo xứ hay tu viện của họ.

Tuy nhiên trong cái thuận lợi của sự phổ biến sâu rộng đó cũng không khỏi có cái tai hại cho tính thuần túy, trong sáng của thiền Vipassanà, vì bị pha tạp, lai căng và phân hóa. Bản chất thiền Vipassanà là sống trực tiếp, trong sáng, giản dị và tự nhiên ngay trong tính tự tính của thực tại hiện tiền, nhưng phần đông không đủ căn cơ để sống thiền trực tiếp như vậy, họ phải vận dụng thành phương pháp để dễ thể nghiệm và truyền đạt cho người khác, nhờ vậy mà thiền Vipassanà ngày càng được phổ biến rộng hơn, nhưng đó cũng chính là khởi điểm của quá trình đa phức hóa, làm phát sinh nhiều trường phái khác nhau. Thiền của Ngài Kundalàbhivamsa thuộc trường phái Thiền sư Mahàsi nổi tiếng ở Myanmar. Vì phần đông tâm hành giả còn nhiều dao động nên phương pháp của phái thiền này là giúp hành giả ổn định tâm rồi mới đi sâu vào quán sau, do đó thiền sư đã hướng dẫn giai đoạn đầu rất niêm mật từng chi tiết. Tuy nhiên khi đã thuần thục thì hành giả có thể dễ dàng sống trực tiếp với pháp một cách thong dong tự tại.

Chính vì thiền Vipassanà là sống trực tiếp nơi pháp (thực tại hiện tiền), không qua ý niệm và ngôn ngữ, nên nói hay viết về thiền Vipassanà đã là việc vô cùng khó khăn huống nữa là phải thông qua các bản dịch gián tiếp. Nguyên Ðức Phật giảng thiền Vipassanà bằng ngôn ngữ Pàli, các vị thiền sư Tích Lan, Myanmar, Ấn Ðộ, Thái Lan v.v... giảng lại bằng ngôn ngữ của mình, sau đó được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ðức v.v... rồi từ đó chúng ta mới dịch ra tiếng Việt. Quá trình gián tiếp hóa nhiều giai đoạn này chắc hẳn không sao tránh khỏi ít nhiều nhầm lẫn.

Bản dịch tập sách thiền "The Nine Essential Factors Which Strengthening Indriya Of A Vipassana Meditating Yogi" của thiền sư Kundalàbhivamsa do Ðại Ðức Thiện Minh thực hiện là một cố gắng lớn lao nhằm giảm thiểu những nhầm lẫn chú tâm với tập trung tư tưởng. Vipassanà là Thiền Quán, chỉ sử dụng sát-na định, do đó hành giả thường chú tâm chứ không tập trung tư tưởng như trong thiền định. Chú tâm là chuyên tâm chú niệm trên đối tượng Paramattha luôn luôn sinh động mới mẻ trong sự soi chiếu của trí tuệ ttnh giác, còn tập trung tư tưởng là gắn chặt tầm tứ trên một đối tượng Pannatti nhất định do tưởng nắm bắt. Ðối tượng của thiền Vipassanà luôn luôn chuyển biến sinh động nên không thể tập trung tư tưởng như trong đối tượng tĩnh của thiền định được.

Một điểm đáng lưu ý khác là nhiều dịch giả đã sử dụng từ đệm "à" như : đi à, đứng à, đau à, sân à v.v... nhằm mô tả của một tư thế hay trạng thái đang liên tục diễn biến trên thân, thọ, tâm, pháp khi hành giả chú niệm. Ðể nhấn mạnh tính liên tục của đối tượng, các thiền sư tạm nói "đi.i.i..." kéo dài nghe như "à" chứ thực ra không có chữ "à" ; vì khi niệm "đi à", "đứng à", v.v... thì hành giả dễ nhầm lẫn với pháp môn niệm Phật, và nếu cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy chắc chắn tưởng sẽ phát sinh, tỉnh giác sẽ mờ dần và kết quả có tốt đi nữa cũng chỉ rơi vào thiền định. Vậy niệm trong Vipassanà có nghĩa là chú tâm tỉnh giác ngay nơi thực tại đang diễn tiến, chẳng hạn diễn tiến của "đi" gồm nhiều động tác liên tục như giở... bước...đụng...đạp... nghiêng...tới...v.v... cần được quan sát một cách minh bạch tự nhiên trong ttnh thức và lặng lẽ, chứ không niệm bằng ý tưởng hoặc bằng lời như trong niệm Phật. Do đó tôi hoàn toàn đồng ý với dịch giả là chỉ tạm nói "đi...", "đứng...", "đau...", sân..." cho dễ hiểu chứ không dùng "à" để tránh hiểu nhầm.

Tôi thành thật tán dương công đức của dịch giả đã góp phần làm phong phú cho nền thiền học Việt Nam, và mong rằng tập sách này sẽ giúp cho chư hành giả dễ dàng thâm nhập thiền quán Vipassanà hơn.

Tổ Ðình Bửu Long, ngày 6-4-1998
Tỷ kheo Viên Minh


 


Tham Khảo Từ Vựng Pàli - Việt

 

Abhikkanta

Tiên tiến, tiến tới

Abhinnà

Thần thông, thắng trí

Adhitthàna

Quyết định

Adosa

Vô sân

Ăhàra

Vật thực

Akusala

Bất thiện

Alobha

Vô tham

Ălokita

Chờ đợi, mong ngóng

Amoha

Vô si

Anatta

Vô ngã

Anicca

Vô thường

Anitthàyon

Ðối tượng không vừa lòng

An-upàdisesa Nibbàna

Vô dư Niết- bàn

Anusaya

Tùy miên

Ăpatti

Tội

Apàya regions

Ác đạo

Arahanta

A-la-hán

Ărammana

Trần cảnh

Ariya

Thánh

1. Sotàpanna
2. Sakadàgàmì
3. Anàgàmì
4. Arahanta

1. Nhập Lưu (Tu Ðà Hoàn)
2. Nhất Lai (Tư Ðà Hàm)
3. Bất Lai (A Na Hàm)
4. A-la-hán

Asadisa

Không ai bằng

Asura

A-tu-la

Atthakathà

Chú giải

Ăvàso

Nơi ở, trú xứ

Avijjà

Vô minh

Balavant

Mạnh mẽ

Bhàsita

Lời nói

Bhassa

Nói chuyện

Bhava

Hữu

Bhàvana

Tu tập

Bhaya

Sợ hãi

Bhojana

Vật thực

Bhùmì

Cõi, giới

Buddhànussati

Niệm Phật

Cankama

Kinh hành

Canakama samàdhi

Ðịnh đạt được do kinh hành

Càtumadhu

Bốn loại mật

Cetiya

Chùa, tháp

Cittakammannatà

Tâm thích ứng

Cittalahatà

Tâm khinh an

Cittamudutà

Tâm nhu nhuyến

Cittapàgunnatà

Tâm thuần thục

Cìvara

Y phục

1. Sanghàti
2. Uttaràsanga
3. Antara vàsaka

1. Y tăng già lê
2. Y vai trái
3. Y nội

Dàna

Bố thí

Desanà

Thuyết pháp

Dhàtu

Yếu tố, giới, đại

1. Pathavi dhàtu
2. Tejo dhàtu
3. Ăpo dhàtu
4. Vàyo dhàtu

1. Yếu tố đất (địa đại)
2. Yếu tố lửa (hỏa đại)
3. Yếu tố nước (thủy đại)
4. Yếu tố gió (phong đại)

Dittha

Thấy (kiến)

Dosa

Sân

Domanassa

Ưu

Dukkha

Khổ

Gacchati

Ði

Gambhìra

Sâu, khó thấy

Gocara

Ðồng cỏ, nơi chốn

Gocaragàma

Hành xứ

Hiri

Tàm (hổ thẹn tội lỗi)

Indriya

Quyền, khả năng

1.Saddhindriya
2.Viriyindriya
3. Satindriya
4. Samadhindriya
5. Pannindriya

1. Tín quyền
2. Tấn quyền
3. Niệm quyền
4. Ðịnh quyền
5. Tuệ quyền

Iriyàpatha

Oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi)

Issà

Tật đố

Itthàyon

Ðối tượng khả ái

Jàgarita

Còn thức (không ngủ)

Jhàna

Thiền

Kalyànamitta

Thiện trí thức

Kamma

Nghiệp, hành động

Karuịà

Tâm bi

Kàya

Thân

Kàyakammannatà

Thân thích ứng

Kàyalahutà

Thân khinh an

Kàyamudutà

Thân nhu nhuyến

Kàyapàgunnatà

Thân thuần thục

Khandha

Uẩn

Khanika samàdhi

Sát-na định

Kilesa

Phiền não

Kusala

Thiện

Lakkhana

Tướng

Lobha

Tham

Lokiya

Thế gian

Lokuttara

Siêu thế gian

Macchariya

Xan

Magga

Ðạo

Mahàbhùta

Tứ đại

Màna

Mạn

Mangala

Hạnh phúc

Mettà

Tâm từ

Moha

Si

Nàma

Danh

Nàma-Dhamma

Danh pháp

Nana

Trí tuệ

Navakamma vatthu

Hiện kim

Nibbàna

Niết-bàn

Nimita

Dấu hiệu, ấn chứng, tướng

Nirodha samàpatti

Diệt tận định

Nisìdati

Ngồi

Ottappa

Quý (ghê sợ tội lỗi)

Ovàdana

Lời khuyên

Paccavekkhana nàna

Quán sát trí

Pacceka Buddha

Ðộc giác Phật

Pamuccati

Giải thoát

Panàma

Ðãnh lễ

Pannatti

Chế định

Paramattha

Chơn đế

Paramità

Ba-la-mật

Parikkhàra

Nhu cầu

Pariyatti sàsana

Pháp học

Patighanusaya dosa

Sân tùy miên

Patikkanta

Trở về

Patipatti sàsana

Pháp hành

Patirùpadesavàsa

Trú xứ thích hợp

Patta

Bình bát

Peta

Ngạ quỷ

Phala

Quả

Pitaka

Tạng

Pìti

Hỷ

Puggala

Người, cá nhân

Puthujjana

Phàm nhân

Ràga

Tham ái

Rùpa

Sắc

Rùpa-dhamma

Sắc pháp

Sabba

Tất cả

Sabbannutà

Toàn tri

Saddhà

Ðức tin

Saddhamma

Chánh pháp

Samàdhi

Ðịnh

Samana

Sa-môn

Samana dhamma

Sa-môn pháp

Samatha bhàvanà

Tu tập thiền cht

Sampajàna

Ttnh giác

Samàpatti

Ðắc đạo, nhập thiền

Samsàra

Luân hồi

Sangha

Tăng

Sanghàti

Y tăng già lê

Santàna

Tương tục

Sappàya

Thích hợp

Sàsana

Giáo pháp

Sati

Niệm

Satipatthàna

Niệm xứ

Sa-upàdisesa Nibbàna

Hữu dư Niết - bàn

Sikkhà

Ðiều học

Sikkhàpada

Giới, điều học

Sìla

Giới

Taruna

Non nớt

Tunhìbhàva

Im lặng

Udaya

Sinh

Upapatti devà

Chư thiên hóa sanh

Upekkhà

Xả

Utu

Thời tiết

Vàda

Học thuyết

Vaya

Diệt

Vedanà

Cảm thọ

Veneyya

Tín đồ

Veyyàvicca

Phục vụ

Vilokita

Nhìn qua

Vipàka

Quả

Vipassanà Bhavana

Thiền quán

Vipassanà nàna

Minh sát tuệ

1. Sammasana nàna
2. Udayabbayanupassanà nàna
3. Bhangànupassanà nàna
4. Bhayvànupassanà nàna
5. Ădinavànupassanà nàna
6. Nibbidànupassanà nàna
7. Muccitukanyatà nàna
8. Patisankhàrupassanà nàna
9. Sankhàrupekkhà nàna
10. Aluloma nàna

1. Tư duy trí
2. Sinh diệt trí
3. Diệt trí
4. Bố úy trí
5. Quá hoạn trí
6. Yếm ly trí
7. Dục thoát trí
8. Giản trạch trí
9. Hành xả trí
10. Thuận thứ trí

Viriya

Tinh tấn

1. Kàyika viriya
2. Cetasika viriya

1. Thân tinh tấn
2. Tâm tinh tấn