Giáo dục nhân cách
Một cách tổng quát, nhân cách là tính cách đặc biệt của một con người
trong suy nghĩ , cảm nhận và thái độ hành xử của người ấy. Nhân cách bao
gồm thể cách, thái độ, ý kiến và được thể hiện trong quan hệ với những
người khác. So với hành vi, thói quen thì nhân cách có tính cố hữu hơn
và có tính chắt lọc từ những gì thu đạt được trong quan hệ của một người
với môi trường và xã hội.
Dĩ nhiên, như vẫn thấy trong triết học, có nhiều định nghĩa về nhân
cách. Trong tâm lý học, nhân cách được hỏi theo hai khía cạnh:
1. Do quan sát, nhân cách được giải thích về xếp loại một cách tương đối về đặc tính tâm lý của con người.
2. Xét những tính chất khiến cho mọi người giống nhau hay khiến một
người khác với những người khác về mặt tâm lý. Từ đó, xét về nhân cách
là xét con người thể hiện mình như thế nào và xét đâu là nguyên nhân của
sự thể hiện ấy.
Khái niệm về nhân cách đã có từ thời Hy Lạp cổ đại và phát triển cho
thế kỷ XVI ở châu Âu, theo đó nhân cách là sự hài hòa của 4 chất lỏng
(từ Latin gọi là humor) là máu, đờm, giận, buồn (giận, buồn là biểu hiện
của màu mặt) chỉ sự quân bình của tinh thần. Về sau, do yêu cầu chữa
bệnh, kể cả bệnh cơ thể và tâm lý, nhiều lý thuyết về tinh thần và cụ
thể là lý thuyết về nhân cách (personality) được đề ra. Đặc biệt yêu cầu
giá dục về nhân cách càng lúc càng trở nên thân thiết khi giáo dục phát
triển và những vấn đề con người trong xã hội mới được đặt ra trong
những thập niên đầu thế kỷ XX.
Theo Sigmund Freud (1856 – 1930), nhân cách gồm dục tính, ngã và siêu
ngã (Id, ego, superego), trong đó dục tính là quan trọng nhất, dục tính
qua tiếp xúc với thế giới đã tạo nên ngã, và từ ngã, có một siêu ngã để
đánh giá nó. Dục tính hay bản năng là nguyên nhân và động lực tạo ra
nhân cách. Carl Jung (1875 – 1962) tiếp tục triển khai cái mà Freud gọi
là tiềm thức và chủ trương nhân tính vốn hình thành từ những hồi ức gốc
(radial memories) mà ông gọi là tiềm thức tích tập (collective un
conscious). Do xếp các hồi ức này, Jung phân biệt nhân cách hướng nội
và nhân cách hướng ngoại của con người.
Alfred Adler (1879 – 1937) nhấn mạnh ảnh hưởng của xã hội vào nhân
cách và xem đây là phần chủ yếu của nhân cách; phần khác là xu hướng
muốn tiến đến quyền lực để cân bằng mặc cảm tự ti. Như vậy, đối với
Adler, nhân cách chủ yếu là ý thức bị ảnh hưởng bởi xã hội cộng thêm cái
xu hướng vươn lên để giải thoát tự ti.
Erich Fromn (1900…) xem nhân tính là bản năng ( như thú vật) và sự tự
ti, lý trý và óc tưởng tượng (như con người), đồng thời nhấn mạnh phần
ảnh hưởng của xã hội. Carl Rogéry (1902 – 1987) chỉ chấp nhận cách cư xử
như là biểu hiện của nhân tính của một người trong hiện tại đối với
hoàn cảnh chung quanh. Trong chiều hướng đó, Rogers nói đến cái quan
niệm về ngã hay cái cơ cấu ngã ( self-concept hay self-structure).
Nhân cách còn được bàn đến qua các cơ cấu khác nữa kể từ năm 1930 đến
nay: Ross Stognné, Gorden W. Allport, Henri A.Marray, Gardner Murphy…
trong khi Erik H.Erikson có tham vọng tập hợp các yếu tố sinh học, tâm
lý, xã hội thành một học thuyết trọn vẹn về sự phát triển và thay đổi
của nhân cách bao gồm suốt đời người.
Thực tế hơn, những cuộc trắc nghiệm tâm lý để tìm hiểu nhân cách bằng
sự thống kê (inventories test) hay sự bày tỏ (phỏng chiếu) của người
được trắc nghiệm (projective test) của các trường Đại học Mỹ như
Minnesota, California (Minnesota multiphasic personality inventory,
California psychological Inventory, theematic Apperception test…) thu
được một số thành quả nhất định trong việc khám phá, giáo dục nhân cách.
Nhìn chung , giáo dục nhân cách càng lúc càng được coi trọng và có lịch
sử lâu dài
từ 25 thế kỉ trước, nó tiếp tục dò dẫm, phát triển mãi cho đến ngày
nay.
Mục đích của giáo dục phương Tây là để tìm hiểu con người, tâm hồn con
người, tâm lý con người hay bản chất con người, để xây dựng một cách
tốt, cải thiện nhân cách chưa tốt. Mục đích này là của giáo dục học, xã
hội học, tâm lý học và tâm lý trị liệu, thậm chí là sinh lý trị liệu.
Tuy nhiên hiện nay định hướng cho con người vẫn chưa cụ thể rõ ràng và
những căn bệnh tâm lý, xã hội vẫn có dấu hiệu ngày càng trầm trọng. Nếp
sống buông tha, phóng đãng, vô định vẫn càng lúc càng nhiều, hiện tượng
cuồng tín, sát nhân, tự tử càng lúc càng gia tăng, đó là chưa kể những
sa đọa tinh thần, đạo đức trầm trọng khác…. Như thế nghĩa là giáo dục
nhân cách của phương Tây và của nhiều nước ở phương Đông đang bị ảnh
hưởng bởi văn minh phương Tây chưa được định hướng đúng đắn, chưa đáp
ứng được yêu cầu của xã hội, của thời đại.
Chúng ta không phủ nhận những nỗ lực đáng kể của phương Tây trong việc
nghiên cứu nhân cách. Đó là việc càng lúc càng đào sâu vào bản năng
trong tâm lý của con người. Ta thấy bàn đến bản năng, dục tính, đến các
thái độ tâm lý, đến cách cư xử, đến ngã, đến siêu ngã, đến sự bẩm sinh,
đến ảnh hưởng của môi trường, của xã hội đối với nhân cách của một người
và của một nhóm người, của toàn thể loài người.
Nếu xét nhân cách trong Phật giáo,
ta thấu nhân cách được bàn không chỉ khởi từ bản năng, dục tính mà còn
được đào sâu hơn, mở rộng hơn khi xét đến con người ngũ uẩn.
Nhân cách trong Phật giáo
Như đã nói, con người theo quan điểm Phật giáo là con người ngũ uẩn,
tập hợp của 5 thành tố: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi con người có ý
thức về mình thì con người đã là một chúng sinh của cõi hữu vi, của thế
giới hiện tượng, vô thường, khổ đau, tức là con người được hình thành
bằng ngũ uẩn. Vậy, bàn đến nhân cách là bàn đến những nét chung và riêng
cũa những hành vi, của tâm lý, cách cư xử, tính tình của một cá nhân,
nghĩa là bàn đến nhân cách hay tính chất của cái tập hợp ngũ uẩn.
1. Con người ngũ uẩn :
Ngũ uẩn gồm sắc (vật chất, hình tướng), thọ (cảm nhận, cảm giác khi
tiếp xúc với các sự vật, đối tượng), tưởng (suy nghĩ, so sánh, đối
chiếu), hành (vận động, hành động của thân, miệng, ý), thức (cái biết do
các quan năng mang lại). Con người theo Phật giáo là tập hợp của 5
thành tố trên, ngoài ra không có gì khác. Tập hợp là một từ bao hàm
trong nói ý nghĩa hữu vi, bị điều kiện hay bị chi phối bởi nhân duyên.
Mỗi một thành tố tự nó dũng là do nhân duyên, tức là không có cái sắc
nào tự đứng
một mình, không có cái thị nào, tưởng nào, hành nào, thức nào tự thành
lập mà không có sự hiện diện, hỗ trợ của các thành tố khác. Tóm lại,
tất cả các thành tố và tập hợp các thành tố đều do nhân duyên, như vậy
lý duyên khởi là yếu tính của sự thành lập ngũ uẩn. Và đã như vậy thì
tập hợp ngũ uẩn hay con người xét cho cùng không thể hàm chứ một ngã
tính nào cả. Không có ngã tính, không có ngã thì cái gọi là nhân cách
con người chỉ là cái tạm thời, quy ước mà thôi.
2. Nhân cách:
Bản chất tối hậu của con người là vô ngã, nhưng vì con người là con
người của cõi hữu vi, mọi người đều có tâm lý, thái độ, hành xử, tư duy…
giống và khác với những người khác nên chúng ta phân biệt nhân người
nói chung và nhân cách của một người nói riêng.
Con người là tập hợp duyên khởi, cụ thể là tập hợp ngũ uẩn, tức là một
sự khổ theo quan điểm của đạo Phật. Con người tự nhận mình có ngã là do
thói quen từ vô thỉ, thói quen chấp trước, phân biệt, cho rằng cái tập
hợp ngũ uẩn là ngã. Cái thức (A lại da) mang các chủng tử được huân tập
từ bao đời kiếp được nhân là một ngã linh hồn. Cái hoàn cảnh chung của
cái sức sống tương tục, hay nói khác đi, là nghiệp hay nghiệp lực của
thế giới này (hay cộng nghiệp) khiến cho người ta có những thái độ
hành xử, tư duy giống nhau như đau buồn trước sự mất mát, giận dỗi khi
bị xúc phạm, vui mừng khi xứng ý. Như vậy, nghiệp đã tạo ra nhân cách,
hay nói cách khác đi, nhân cách của một người chính là nghiệp của người
ấy.
Phật giáo chấp nhận các học thuyết về tâm lý, về nhân cách của các
triết gia, các nhà khoa học hiện đại nhưng điều đặc biệt là Phật giáo
còn đi sâu hơn những học thuyết ấy trong việc xem các bản năng, dục
tình, ngã, siêu ngã, tiềm thức có gốc gác trong những đời trước. Trong
khu bàn về nguyên nhân của nhân cách trong Phật giáo, người ta đụng chạm
đến 12 chi phần duyên khởi, 5 thành tố ngũ uẩn, 3 tính chất căn bản của
nhân cách là: tham, sân, si.
Tham, sân, si là biểu hiện của tự ngã sai lầm, của cái giả ngã khổ đau
nhưng lý duyên khởi cho ta biết rằng ngã là không, cho nên cái tính
không vẫn là bản chất của nó. Mặt khác, vô tham, vô sân, vô si là biểu
hiện của cái vô ngã. Đây là hai mặt của một nhân cách. Do hai mặt này,
nhân cách không thiện và nhân cách thiện đều có trong một cái nhân.
Thiện và không thiện là hai đặc tính nhân cách : có gây trở ngại cho cá
nhân và cho người khác hay không. Như vậy, thiện hay ác là tính chất của
mọi
thái độ, cảm xúc, hành động, tâm lý và tư duy của con người nói chung.
Phật giáo với lý thuyết về A lại da còn quan niệm về nhân cách thứ ba
vô ký ( không thiện không ác). Điều này rất quan trọng đối với giáo dục
nhân cách, chúng ta sẽ bàn tiếp sau này.
Nhưng đối với một cá nhân là đối tượng của giáo dục là nhân cách riêng
của cá nhân ấy mới quan trọng. ‘’Bá dân bá tánh’’ (trăm người là trăm
tánh) hẳn là rất đúng trong ý nghĩa rằng mỗi người có một nhân cách
riêng, không có hai nhân cách hoàn toàn giống nhau.
Tại sao như vậy ?
Ta hãy trở lại tập hợp ngũ uẩn. Do tập khí từ các đời quá khứ và đặc
biệt do hoàn cảnh nhân duyên hiện tại, trong đó yếu tố quan trọng nhất
là giáo dục mà chức năng vận hành của từng thành tố và ‘’cấu trúc ‘’ của
5 thành tố của mỗi người không giống nhau. Việc không giống nhau của 5
ngũ uẩn này khiến cho mỗi người có một nhân cách riêng.
Việc phân loại nhân cách dựa vào trắc nghiệm tâm lý, thái độ là hết
sức cần thiết cho giáo dục nói chung và việc phân tích cho được nguyên
nhân của một loại hình nhân cách là rất cần thiết cho việc giáo dục nhân
cách.
3. Giáo dục nhân cách :
Nhân cách, nói đến chỗ tuyệt đối, tối ngã là vô ngã. Giáo dục nhân cách là làm sao chuyển cái giả ngã thành vô ngã.
Theo pháp tướng duy thức học, cái chấp ngã là chứ năng của Mạt na, Mạt
na nhìn vào A lại na mà cho rằng A lại da là ngã, là ta. Vậy, ‘’ngã’’
được hình thành do nội dung mà A lại da chứa đựng và sự chấp ngã của Mạt
na. Để tiến đến vô ngã, một người phải phá bỏ chấp trước và mặt khác
không làm phong phú cái nội dung ngã của A lại da bằng cách điều phục
thân, khẩu, ý trong hành động, đồng thời tạo thêm và phát triển các
chủng tử thiện, hạn chế sự hiện hành của các chủng tử ác. Để đạt mục
tiêu
ấy, thiền định là phương pháp tốt nhất. Thiền định giúp ta buông bỏ
phân biệt, chấp trước, phát triển trí tuệ để nhìn rõ nguyên nhân khổ
đau.
Giáo dục Phật giáo giúp con người phát triển trí tuệ để thấy rõ ngũ
uẩn là không, là vô ngã. Phật giáo đề cao 6 ba la mật là bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Bốn đức của ba la mật
là khổ, không, vô thường và vô ngã. Chính việc thực hành lục ba la mật
là một phương pháp rèn luyện nhân cách tuyệt vời, là phương cách trị
liệu hữu hiệu nhất đối với những bệnh nhân cách (personality disease) mà
các nhà phân tích nhân cách hiện đại đã phân tích và tìm cách chữa trị.
Ngoài ra, nhờ việc phân tích ngũ uẩn và áp dụng giáo lý duyên khởi nên
giáo dục nhân cách của Phật giáo có thể xếp loại nhân cách và phương
pháp giáo dục, trị liệu cho từng nhân cách: người có dục tham nặng thì
cần tu tập quán vô thường, vô ngã và thực hành bố thí. Người nặng sân
hận thì cần thực hành tứ vô lượng tâm.
Tóm lại:
Như vậy, cái nhân cách tốt đẹp nhất là cái nhân cách vô ngã. Nhân cách
càng gần với vô ngã thì càng tạo hạnh phúc cho cá nhân mang nhân cách
ấy và góp phần tạo hạnh phúc cho những người chung quanh.
Mọi đau khổ đều là những thể hiện của tham, sân và si : ngã chấp là
động cơ vận hành của tam độc này. Càng vô ngã thì càng được giải thoát,
tức càng ít khổ đau. Sự thật này là kinh nghiệm sống hàng ngày mà người
ta không để ý đến. Giáo dục phải nhắc nhở cho người ta, phải khuyến
khích người ta thực hiện vô ngã. Như thế, nói một cách khác, giáo dục,
nhất là giáo dục nhân cách, là phải xem vô ngã là mục đích tối hậu.
Những trường hợp bất thường về nhân cách mà các nhà chuyên môn gọi là
bệnh nhân cách chính là bệnh chấp ngã, chấp ngã trong các lĩnh vực khác
nhau về ý nghĩ, về tâm lý, về ứng xử, hành động. Giáo dục Phật giáo có
thể điều chỉnh, chữa trị những trường hợp bất thường ấy. Con đường vô
ngã chính là con đường của giáo dục Phật giáo vậy.
Lan Ngọc (tổng hợp)