Phật giáo & Tuổi trẻ
Tình yêu thương dành cho những người bạn động vật
31/03/2010 22:02 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng


Xem hình

Những nữ Phật tử đã thực hiện rất nhiều các hoạt động từ thiện và thiện hạnh bi tâm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, thể hiện năng lực to lớn để đóng góp mang lại sự bình an cho chúng sinh. Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

 Tuy nhiên, thảo luận về đóng góp của nữ Phật tử ở một chừng mực nào đó chỉ giới hạn trong cõi người. Nhu cầu cấp bách của thế giới hiện nay đòi hỏi phụ nữ trong Phật giáo phải trang trải tâm từ bi đến cõi súc sinh, bởi vì loài vật hiện đang ngày càng trở thành đối tượng bị lạm dụng và đối xử tàn ác khắp nơi trên thế giới.

Bài viết này muốn nhấn mạnh đến những nỗ lực của một nhóm nhỏ những nữ Phật tử ở Kuala Lumpur, Malyasia. Họ hành động cùng hướng đến một mục đích chung, và đã có những đóng góp đáng kể đến hoạt động cứu giúp các loài động vật hoang như cứu giúp những chú chó, mèo hoang sắp chết vì hành động vô trách nhiệm của những người chủ và người dân thành thị, những người đang ngày càng chạy theo lối sống hưởng lạc về vật chất. Những phụ nữ này có niềm tin sâu sắc vào Phật Pháp, hầu hết là những người rất bận rộn với công việc, sự nghiệp thế gian nhưng vượt qua khó khăn đó, trong suốt bốn năm qua, họ đều thể hiện quyết tâm mạnh mẽ trong việc cứu giúp những con vật nuôi bị bỏ hoang. Nỗ lực trả về nhà những con vật bị lạc mà họ đã cứu thể hiện tâm từ bi và những cách thức thông minh, thiện xảo rất đáng được đề cập trong bất kỳ bài thảo luận nào về sự tham gia hoạt động xã hội của những nữ Phật tử. 

Ði kèm với bài viết này là một đoạn video ngắn nhằm hướng đến ba mục đích. Thứ nhất, nhấn mạnh đến vai trò quan trọng nhưng lại thường bị lãng quên của những nữ Phật tử trong hoạt động cứu giúp các con vật. Thứ hai, nhằm nâng cao nhận thức làm thế nào để nữ Phật tử từ mọi truyền thống văn hóa có thể góp phần đóng góp xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn cho những loài vật của chúng ta. Và cuối cùng, muốn khuyến khích phụ nữ khai phát, trang trải lòng từ bi và nguồn năng lượng tích cực đến những con vật bởi chúng cũng là những hữu tình trên thế giới này. Ðoạn video ghi lại việc làm có ý nghĩa của những người cứu giúp loài vật hoang và nhấn mạnh đến những chiến dịch đơn giản mà hiệu quả mà họ đã sử dụng để mang lại cơ hội sống thứ hai cho những con vật mà họ gọi âu yếm là “đứa con có lông” của mình. 

Những thách thức đấu tranh cá nhân họ phải đối mặt là cần thêm nhiều thành viên tham gia tình nguyện vào hoạt động, bởi thái độ phân biệt đối xử giữa những con vật nuôi và những con vật bỏ hoang đang rất phổ biến, và họ giải thích xác đáng tại sao có thêm nhiều phụ nữ mở rộng trái tim và từ tâm tới những người bạn động vật. Tôi thực sự mong nguyện rằng bài viết và đoạn video này sẽ ủng hộ thảo luận về vai trò của nữ Phật tử trong hoạt động trợ giúp loài vật và góp thêm một khía cạnh mới vào những chủ đề hiện tại đã được đề cập trong Hội nghị Sakyadhita sắp tới.

Giáo pháp Ðức Phật về loài vật

Ðạo Phật không phân biệt rõ ràng giữa loài vật và con người như những tín đồ của tôn giáo khác, bởi Ðức Phật ủng hộ mối quan hệ đạo đức giữa con người và loài vật. Ðạo Phật có những giới luật khẩu truyền quan trọng rằng, sát sinh là một ác hạnh căn bản trong số những quy chuẩn đạo đức thông thường nhất của toàn vũ trụ. Giới luật căn bản đầu tiên trong đạo Phật là “Con xin nguyện sẽ không hủy hoại mạng sống của chúng sinh”.

Ðây là lời phát nguyện mang giá trị đạo đức khởi nguyên từ truyền thống đạo Phật, đó là một phần cốt lõi của tôn giáo. Ðối với một người theo đạo Phật, xã hội không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là xã hội loài người mà ở một mức độ rộng hơn bao gồm tất cả chúng hữu tình hay chúng sinh.

Mối quan tâm quan trọng nhất trong quyền của loài vật/ quyền được chăm sóc, bảo vệ là thực tế loài vật đang chịu đựng đau khổ và những đối xử tàn ác do con người gây ra. Ðạo Phật đã nhận ra sự thật này và kịch liệt phản đối sự ngược đãi đối với loài vật. Thứ hai, sự thật là cũng giống như con người, loài vật cũng là đối tượng phải chịu khổ đau mà con người liên tục gây ra. Một điều quan trọng khác cần được xem xét đó là niềm tin rằng bất kỳ vai trò hiện tại nào của chúng sinh trong luân hồi sinh tử (được tạo ra bởi tái sinh) là được quyết định bởi quy luật Nghiệp.

Một số lượng lớn những câu chuyện trong tuyển tập Jataka của Phật giáo luận giải xung quanh vấn đề những hành động thiện và ác được làm trong quá khứ bởi nhiều loại động vật khác nhau. Liên hệ đến hiện tại, những chúng sinh làm điều thiện được tái sinh chính là đức Phật và những đệ tử của ngài, còn những chúng sinh làm điều ác sẽ bị tái sinh là ác quỷ và những chúng sinh tương tự như vậy. Bởi vậy, con người có thể tái sinh đọa thành động vật hay những cõi thấp tùy thuộc vào Nghiệp. Loài vật thường được lấy làm ví dụ về thái độ mẫu mực mà những người Tăng sĩ thường được khuyên nên làm trong cuộc sống của họ. Mặc dù vậy, Phật giáo coi loài vật và con người như là một phần trong vòng luân hồi sinh tử, dòng chảy của vũ trụ góp tạo vào sự tồn tại của các sự vật hiện tượng theo quan điểm của đạo Phật. 

Những câu chuyện kể trong tập Jataka của đạo Phật thể hiện quan điểm nhân đạo đối với loài vật, cho thấy những phẩm hạnh mang tính người thực sự, phẩm hạnh thiện và ác, cao cả và ác quỷ. Tuyển tập Jatakas bao gồm rất nhiều thể loại và mức độ chuyện kể từ những điều răn dạy của Tăng sĩ và những câu chuyện ngụ ngôn đơn giản về các loài vật đến những câu chuyện về các động vật có lòng từ bi được tái sinh và các sử thi anh hùng đầy cảm động khác.   Trong kinh Palijataka và Jatakamala, Bồ Tát không chỉ được thể hiện trên thế giới này mà còn trong tâm nguyện, công hạnh từ bi và trí tuệ vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Trong tuyển tập Jatakas, chúng ta thấy được tinh túy thái độ của Phật tử được áp dụng hòa nhập vào đời sống, đó là tâm từ bi vô điều kiện khởi phát một cách tự nhiên dựa trên trí tuệ nội chứng, nhằm nâng đỡ, trợ giúp tất cả những chúng sinh khác.

Trong tuyển tập kinh Jatakas, chúng ta học được rằng từ xa xưa, khi hóa thân là một hươu chúa, Bồ Tát đã không quản cả mạng sống của mình để cứu độ tất cả chúng sinh khỏi sự nguy hiểm; khi hóa thân là một chú khỉ, Ngài đã cứu mạng sống của một người thợ săn vô ơn; khi hóa thân là một con sư tử, Ngài làm dịu đi mọi nỗi sợ hãi của tất cả những loài vật đáng sợ; khi hóa thân là một chú vẹt, Ngài đã xả thân không chút sợ hãi bay qua những ngọn lửa để cứu những những con vật bị mắc bẫy trong khu rừng đang cháy; khi hóa thân là một con voi, Ngài dâng cả mạng sống của mình để cứu người đàn ông đang chết đói; khi hóa thân là một đức vua, Ngài đã dâng thịt của mình để cứu sống một chú bồ câu; khi hóa thân là một hoàng tử, Ngài dành cả mạng sống của mình để cứu mạng một con sư tử và đàn con. Tóm lại, trong kinh Jatakas, đã kể lại những công hạnh vô ngã vị tha của một cá nhân đã giải thoát siêu vượt mọi bám chấp bản ngã trong thế giới này. Tất cả đều thể hiện những công hạnh tự nhiên vô tác của tâm từ bi và trí tuệ của một bậc Bồ Tát, và thông qua đó, chuyển hóa tất cả mọi hiện hữu tồn tại thành những nỗ lực tâm linh, cho dù có những hiện hữu dường như được cho là những điều tầm thường bên ngoài con đường Phật Pháp. Tất cả chúng sinh đều được hiển lộ tiềm năng Phật tính và tâm Bồ Tát vốn sẵn có trong mình.

Ðức vua Asoka cũng liên tục yêu cầu thần dân của mình đối xử với các loài vật bằng tình tình yêu thương và sự quan tâm, chăm sóc, và yêu cầu phải chuẩn bị những phương tiện để chăm sóc chữa trị cho chúng. Ngài cũng nghiêm cấm việc giết động vật cho việc cúng tế hay lễ hội. Trong một lần tình cờ, đức vua Asoka đã cứu một số loài vật khỏi bị xẻ thịt: “Khi tôi dành 26 năm của mình ngăn cấm việc sát sinh các loài động vật, tất cả những con vật còn nhỏ và những con vật chưa đến 6 tháng tuổi đều không được sát sinh.” Trật tự trong vương quốc cho thấy từ tâm của đức vua Asoka dành cho các loài vật và thiết lập nên những ngôi nhà của các loài vật.  Trong một câu chuyện khác, trong khi đức Sakka bị kẻ thù rượt đuổi, Ngài đã khuyên người đánh xe ngựa rằng:

"Hỡi O Matali, hãy nhìn chiếc cột kéo xe kia,

Ðã phá tan bao tổ chim giữa những cây bông

Ta thà bỏ mạng bởi bọn Asuras

Còn hơn làm hại những tổ chim này".

Do ðó, để tránh làm tổn thương những con chim hay làm hại tổ của chúng, Matali đã đánh cho xe ngựa chạy lòng vòng. Thấy xe ngựa đột ngột đổi hướng, bọn asuras sợ hãi ra mặt bởi nghĩ rằng một cuộc tấn công sắp đến và chúng quay gót rút lui. Câu chuyện dẫn tới kết luận rằng Sakka được cứu chính bởi sự quan tâm đến những chú chim, và ngụ ý rằng tất cả chúng ta cũng nên thể hiện mối quan tâm tương tự đến mạng sống và sự an nguy của chúng sinh khác. 

Mục đích của bài viết này muốn khuyến tấn các Phật tử hãy quan tâm đến tầm quan trọng của quyền của những loài động vật mà hầu như tất cả mọi người đều lãng quên. Ðây là bài thực hành quan trọng nhất cho cư sĩ và Tăng đoàn, là giới luật đầu tiên không sát sinh. Trong Phật giáo Ðại thừa, lý týởng Bồ-tát đạo được thực hành với lý nghĩa thâm diệu, có nghĩa rằng chứng đạt giác ngộ giải thoát là vì lợi ích của hết thảy chúng sinh và xả thân nỗ lực để cứu độ chúng sinh vượt thoát luân hồi khổ. Do đó, một người trở thành bậc Bồ tát nhờ khai phát được bồ đề tâm nguyện vì lợi ích của hết thảy chúng sinh.

Tuy nhiên, hầu hết khi mọi người nghe thấy tiếng kêu cứu của một con vật trong rãnh nước hay bị bỏ mặc trong một chiếc hộp ở nơi thuận tiện, mọi người đều thờ ơ bước qua. Cũng có thể có chút thương cảm cho những chúng sinh này. Có lẽ một suy nghĩ có thể chợt vụt qua trong tâm trí họ rằng nên làm gì đó để cứu lấy những chúng sinh này. Thậm chí, một số người có thể cầu nguyện cho chúng nhưng tất cả cũng chỉ có thế.

Nếu một con vật bị đói, bị thương hay bị ốm, hầu hết chúng đều hy vọng đơn giản rằng ai đó sẽ phát hiện ra và chăm sóc, chữa trị đầy đủ cho chúng. Rất nhiều người sẽ rùng mình với suy nghĩ phải gánh lấy trách nhiệm, chịu quá nhiều sức ép như thiếu thời gian, tài chính, kiến thức để làm thế nào để chăm sóc những con vật bỏ hoang… Tóm lại, hầu hết sẽ bỏ mặc chúng và cho rằng chăm sóc những chúng sinh là trách nhiệm của người khác. Bây giờ, nếu ai đó trong xã hội có những ý nghĩ như vậy, thì sẽ có rất ít hoặc không có cơ hội cho những con vật bị bỏ hoang tồn tại trong thế giới do con người thống trị. Thậm chí nếu họ có làm vậy, điều kiện của chúng sẽ rất đáng thương. May mắn thay, vẫn còn những người có tấm lòng thương cảm và thiện xảo không thể làm ngơ trước hoàn cảnh khó khăn của những con vật bị bỏ hoang hay giúp chúng có được những giấc ngủ ngon giấc. Họ có khả năng nhìn thấu vào hoàn cảnh của chúng và hiểu rằng hạnh phúc cũng như khổ ðau của loài vật cũng có mối quan hệ với hạnh phúc và khổ đau của chính con người. Do đó, họ hành động không phải do cảm hứng bốc đồng mà bởi sự hiểu biết, lòng bi mẫn và tình yêu thương sâu sắc đến những con vật này. 

Một trong những nhóm như vậy là đội cứu trợ Metta Karuna, tuy chỉ là một nhóm nhỏ nhưng đóng góp đáng kể của những nữ Phật tử đến từ Kuala Lumpur, Malaysia vân tập cùng nhau vì một mục đích chung rất cao cả. Sứ mệnh của họ là cứu những con chó, mèo khỏi cái chết cận kề bởi những hành động vô trách nhiệm của những người chủ và của những người dân thành thị đang ngày càng chạy theo lối sống thiên về vật chất. Những phụ nữ này sẽ không bao giờ chọn lựa “sát sinh động vật vì tâm từ” và sợ rằng rất nhiều cá nhân và một số tổ chức động vật tán thành biện pháp này để giảm bớt số lượng ðộng vật bị bỏ hoang. Với niềm tin tưởng sâu sắc rằng tất cả chúng sinh đều có quyền được sống, những phụ nữ này, những người có tín tâm sâu sắc vào Phật pháp mặc dù đa số họ là những người có sự nghiệp rất bận rộn với công việc thế tục của mình, cho thấy quyết tâm và lòng từ bi trong việc cứu giúp những con vật nuôi bị bỏ hoang trong suốt 4 năm qua.

Tổ chức cứu trợ động vật bỏ hoang Metta Karuna ra đời như thế nào ?

Chắc hẳn mọi người đều cho rằng tất cả thành viên trong nhóm Metta Karuna luôn có mọi nguồn lực, kiến thức, thời gian và năng lực cho công việc này. Tuy nhiên, sự thực không hẳn như vậy. Mặc dù tất cả đều dành cho các loài vật một tình yêu thương vô bờ, tuy nhiên ban đầu họ không có dự định thiết lập tổ chức cứu trợ động vật hay đáp ứng tiêu chuẩn của một công việc cứu giúp những con vật nuôi. Ðiêu này xảy ra do những nguyên nhân và điều kiện tình cờ khiến họ mở rộng trái tim và tâm huyết đến những con vật nuôi.

Vào tháng 7 năm 2005, những thành viên sáng lập ra tổ chức, Agnes Cheong, Ho Yuen Foon và Sumitra Siew tham gia vào một cuộc tìm kiếm những chú chó canh gác cho một ngôi tự viện ở trong rừng để chống trộm. Không thể làm ngơ trước lời yêu cầu này bởi lòng kính trọng với người chủ ngôi tự viện, họ bắt đầu tìm kiếm những chú chó ba tháng tuổi giống đực. Cuộc tìm kiếm loại giống chó to khiến họ tìm đến một vài tổ chức chăm sóc động vật như SPCA, PAWS, puppy.com, và cuối cùng một phụ nữ cứu giúp động vật người Ðài Loan không chỉ tình cờ có những chú chó đáp ứng được yêu cầu của người chủ tự viện mà còn sẵn lòng mang chúng đến ngôi tự viện.

Ba tháng sau, Agnes, một phụ nữ về hưu đã cứu chú mèo đầu tiên của bà từ một cống thoát nước trước nhà hàng xóm. Nhớ đến người phụ nữ ngýời Ðài Loan chuyên cứu giúp các con vật, Agnes đã nhờ người phụ nữ này chăm sóc con mèo cho bà. Tuy nhiên, người phụ nữ Ðài Loan đã có những kế hoạch khác. Ngay sau đó, người phụ nữ xuất hiện ở cổng nhà Agnes, mang theo công thức pha sữa cho mèo, một chai nhỏ và một tấm đệm lót ấm áp. Cô nhờ Agnes chịu trách nhiệm trông nom chú mèo đực 10 tháng tuổi và nhanh chóng dạy cho Agnes cách phải làm như thế nào. Về sau, Agnes nhớ lại, “Tôi rất biết ơn cô ấy (người phụ nữ Ðài Loan) vì những bài học căn bản này. Nếu cô ấy mà mang chú mèo về nhà chắc sẽ chẳng có chuyện gì để kể. Nana đã trở thành một chú mèo lớn vô cùng đáng yêu, cậu đã được 3 năm 3 tháng tuổi rồi và cậu sẽ tiếp tục ở với tôi.”

Sau đó vào cuối tháng 4 năm 2006, Angeline, cũng là một phụ nữ về hưu đã tìm thấy hai chú chó nhỏ bị bỏ rơi ở chùa Maha Vihara gần cầu Brickfields khi bà đi cầu lễ trăng non puja. Sau lễ puja, bà mang đến cho Agnes xem những chú chó nhỏ. Bây giờ, Agnes đã khá nổi tiếng là một người cứu giúp động vật nuôi, do đó trở thành người tư vấn cho bạn bè cô ở trong đền. Về sau, những Phật tử khác, Lim Lay Chin and Khoo Hooi Chin cũng tham gia vào hoạt động này, cho chúng ăn, mang con vật bị ốm đến bác sĩ thú y và thậm chí dán quảng cáo tìm người nhận nuôi những chú chó này ở chuồng của chúng vào ngày hôm sau. Ðối với họ, niềm vui nhất là hai học sinh của trường Sunday đến nhận nuôi chúng. Việc nhận nuôi đầu tiên này đã vô cùng khích lệ họ và đánh dấu sự bắt đầu công việc tìm và cứu giúp những con vật nuôi.

Năm tháng sau, một lần nữa Agnes lại nhận được một cuộc gọi rất phiền não từ một ngýời chị em khác trong đạo tràng, Savinder Kaur Gill, một người ủng hộ công cuộc bảo vệ môi trường đã tìm thấy một chú mèo cái 3 tháng tuổi tại một khu trồng cọ trong làng dân tộc cách Kuala Lumpur 250 km. Savinder, người phát hiện ra chú mèo đang lê lết chiếc chân trái khi bước đi, không thể chịu nổi khi bỏ đi để mặc cho chú mèo què ở trong mưa mà không có thức ăn và chỗ ngủ. Ðược sự giúp đỡ của Agnes, Savinder mang chú mèo, tên là Einder về Agnes ở Kuala Lumpur để chữa trị. Rất nhiều sự kiện liên quan đến Einder, chú mèo với đốt xương sống bị cong và hệ thần kinh bị tổn thương do một tai nạn (trước khi được cứu về) và được mang đến những nữ Phật tử và cùng nhau cuối cùng họ thành lập nên tổ chức mà bây giờ được gọi là “Ðội cứu trợ Metta Karuna” gồm có 7 thành viên và tất cả nều là những nữ Phật tử.

Sứ mệnh

Mặc dù họ bắt đầu công việc với không nhiều kiến thức và nguồn hỗ trợ, nhóm cứu trợ Metta Karuna thành lập được bốn năm thực tế đã đi được một chặng đường dài từ khi phát hiện ra chú mèo con đầu tiên. Họ mạnh dạn hơn và có nhiều nguồn hỗ trợ để tiến hành nhiệm vụ cứu những động vật mà hầu hết chúng sẽ xấu hổ và chạy mất. Nhóm có ba mục tiêu chính:

1. Cứu những con vật nuôi nhỏ bị tách khỏi mẹ và bỏ rơi bên lề đường, bãi rác, đền chùa…

2. Tìm nhà cho chúng để chúng có thể nhận được tình thưõng và sự chăm sóc không còn bị bỏ đói hay bị xe cán

3. Hạn chế số lượng những con vật nhỏ bị bỏ hoang bằng cách không cho chúng sinh sản.

Có thể rất nhiều người cho rằng điều này là độc ác, nhưng tổ chức này khẳng định rằng trong hai tội ác, điều này sẽ tốt hơn vì chủ yếu cứu được số động vật không trở thành nạn nhân của việc lợi dụng, tránh khỏi đau đớn trong những tai nạn đói khát và thiếu dinh dưỡng.

Tạm ước Operandi

Những phụ nữ từ 34 đến 61 tuổi hầu hết vẫn còn đang đi làm, nhưng bất chấp cuộc sống bận rộn, họ vẫn chọn con đường giúp đỡ những con vật bỏ hoang, chủ yếu là những chú mèo, bất cứ khi nào họ có thể và cũng không quan tâm đến ý nghĩa đằng sau những hành động này của họ. Ðiều này giải thích tại sao những phụ nữ này không để những con vật hoang ở quá lâu mà cố gắng mang chúng trở về nhà càng sớm càng tốt bởi khi chúng càng lớn, càng ít cơ hội hơn cho chúng. Do đó, nhóm Metta Karuna đặc biệt là Agnes và Sumitra, chỉ đóng vai trò như những người nuôi nấng tạm thời cho đến khi tìm được một ngôi nhà phù hợp và có ích cho chúng.

Khi những thành viên trong đội hay những người bạn thân cứu được một con vật bị bỏ rơi (họ thường âu yếm được gọi là đứa con nhỏ có lông), đầu tiên nhóm sẽ cho chúng ăn, chăm sóc và tắm cho chúng. Những con vật này được đối xử như ở nhà trừ khi chúng bị ốm hay bị thương sẽ được mang đến bác sĩ thú y để chữa trị. Việc chăm sóc chúng như ở nhà gồm có kê đơn thuốc làm tẩy giun và tẩy bọ chét, ve, và những loài kí sinh bằng cách xịt thuốc chống kí sinh. Những con vật này cũng được huấn luyện cách đi vệ sinh đúng nơi quy định khi chúng được khoảng năm tháng tuổi. Ðể phân biệt và cũng là cách thể hiện tình thương dành cho chúng, mỗi con vật được đặt tên theo vị trị của bảng chữ cái, theo thứ tự được mang về, luôn luôn ghép với một phần tên của người ðã cứu chúng.

Ngay sau khi tìm thấy một con vật, cả nhóm luôn sẵn sàng tìm kiếm những người nhận nuôi. Họ chụp những bức ảnh những con vật này rồi quảng cáo để mọi người đến nhận nuôi. Những con cái ít nhất từ sáu tháng tuổi sẽ được phun thuốc triệt sản và sau đó được trả về nhà trong khi những con đực có thể được nhận nuôi bất kì lúc nào nhưng sẽ bị cắt bỏ bộ phận sinh dục khi chúng đến tuổi.

Trong đội, ðặc biệt thông qua Yuen Foon, người làm việc trong một viện nghiên cứu lớn của chính phủ và Agnes, tiến hành rất nhiều chiến dịch khác nhau, bằng cách nói với bạn bè, đồng nghiệp, người thân và thậm chí cả sinh viên ở trường Phật giáo Ngày chủ nhật, trong đó tất cả các thành viên trong đội đều tham gia tích cực. Một chiến dịch khác là thành lập các cửa hàng tại những điểm mua bán tổng hợp, những chợ cóc cũng như tổ chức các sự kiện gây quỹ do các tổ chức Phật giáo. Mèo được nhốt trong lồng và quảng cáo bằng cách treo những biển ghi tóm tắt lợi ích của việc chăm sóc động vật cũng như số phận những con thú này sẽ bị bỏ rơi. Internet và mạng nội bộ văn phòng cũng rất hữu ích trong việc mở rộng quảng cáo. Trong số 55 con vật được cứu giúp trong 4 năm qua, 48 con đã được trở về nhà an toàn nhờ những chiến dịch đơn giản mà hiệu quả của cả nhóm.

Trường hợp những chú mèo đã lớn tuổi, sẽ khó khăn hơn cho chúng để tìm được nhà, chúng được giữ lại, triệt sản rồi sau đó lại được thả về nơi chúng được tìm thấy. Agnes nuôi hai chú mèo bị lạc, đặt tên là Einder và Nana bởi vì điều kiện y tế không cho phép chúng được thả đi hay nhận nuôi bởi các nhà khác.

Quá trình trở về nhà

Cả nhóm không chỉ nghĩ đến nơi quảng cáo những con vật này mà còn làm thế nào để quảng cáo chúng. Qua thời gian, cả nhóm cũng nhận ra rằng phương pháp hữu ích nhất là khuyến khích thu hút những người có khả năng nhận nuôi và đặt ra một vài kế hoạch nhằm làm giảm bớt gánh nặng cho những người nhận nuôi. Ví dụ, nhóm sẽ chịu chi phí cho việc triệt sản, giao hàng miễn phí đến tận nhà và tư vấn miễn phí (thậm chí sau nhiều tháng và nhiều năm), huấn luyện chúng cách đi vệ sinh đúng chỗ trước khi được về nhà, cung cấp đồ chơi miễn phí và rất nhiều các quà tặng khác hoặc tài trợ mua lồng cho chúng. Chiến dịch gần đây nhất là những chú chó, mèo được nhận nuôi về sẽ cung cấp đồ ăn với giá rẻ. Ngoài việc cho ăn, các thành viên trong đội còn chơi ðùa và tắm rửa cho chúng.

Trong đội, Hooi Chin sẽ chịu trách nhiệm soạn mẫu cho những người có thể nhận nuôi để chắc rằng họ là những người nhận nuôi phù hợp. Những người nhận nuôi này phải kí vào mẫu đăng kí và cam kết rằng sẽ không lạm dụng hay gây thương tổn cho chúng dưới bất cứ hình thức nào. Ví dụ: bỏ bê súc vật, để chúng đi lang thang bên ngoài mà không chăm sóc trong thời gian dài, cắt đuôi của chúng, cắt móng vuốt của những chú mèo, sử dụng chúng như những chú chó gác cổng và bỏ mặc không cho ăn uống. Bản cam kết còn yêu cầu người nhận nuôi phải tìm cho chúng sự chăm sóc về y tế và không được từ chối cho chúng được điều trị y tế. Những người mới nhận nuôi còn được yêu cầu cam kết cho mèo của mình triệt sản do đội Metta Karuna phụ trách khi chúng đến tuổi sinh sản. Nhóm Metta Karuna luôn chi trả chi phí phẫu thuật (đây là một phần trong chiến dịch khuyến khích dành cho người nhận nuôi)

Nhóm Metta Karuna không trốn tránh trách nhiệm cứu giúp những con vật nuôi khi chúng bị ruồng bỏ. Ngược lại, nhóm yêu cầu những người nhận nuôi cho phép họ thường xuyên đến nhà kiểm tra vào khoảng thời gian mà họ chấp thuận. Họ thường xuyên mang những chú mèo về để triệt sản sau đó mang trả lại cho chủ của chúng.

Mặc dù trả lại vật nuôi hoàn toàn không được khuyến khích, nhưng cả nhóm đều rất thực tế trong việc mong chờ ở những chủ nhân khi họ hiểu rằng không phải tất cả những người nhận nuôi đều sẽ đối xử tốt với những con vật nuôi và ngược lại. Do đó, có một điều khoản cho phép trả lại vật nuôi trong vòng 15 ngày sau khi nhận về nếu thấy chúng không hợp với các thành viên của gia đình và môi trường xung quanh. Tuy nhiên, rất nhiều những chú mèo bị trả về sau hạn 15 ngày. Vì tình yêu thương, những thành viên trong nhóm không có sự lựa chọn nào khác là chấp nhận những chú mèo và lại bắt đầu quá trình tìm kiếm nhà cho chúng một lần nữa.

Nhóm giữ một quyển sổ theo dõi ghi lại chi tiết tên của những con vật nuôi, người ðã cứu chúng và ngày, địa điểm được cứu, tuổi khi chúng đầu tiên đợc mang về, quá trình chăm sóc y tế cũng như những thông tin chi tiết về quá trình nhận nuôi, tên người nhận nuôi và thông tin liên lạc của chủ mới. Với quyển sổ ghi chép đơn giản này, nhóm có thể theo dõi được số lượng con vật được cứu và tỉ lệ thành công của quá trình chúng được nhận về nuôi. Quyển sổ cũng chú trọng việc ghi lại những bài học rút ra từ việc cứu mỗi con vật để cẩn trọng hơn không lặp lại những việc làm không mang lại kết quả với những con vật được cứu cũng như toàn bộ quá trình trả chúng về nhà. Ví dụ: một lần, một người nhận nuôi từ chối cho phép đội mang chúng đến tận nhà, thay vào đó, chú mèo sẽ được nhận về ở văn phòng. Chú mèođðã khóc trong suốt lúc được nhận về và ngày hôm sau không có lí do rõ ràng nào khiến chú khóc quá nhiều đến mức họ phải mang chú đến văn phòng để một thành viên trong nhóm có thể dỗ dành được. Ðiều này làm tổn thương chú mèo vì quá trình nhận về nuôi không được thực hiện đúng cách. Do đó, nhóm sẽ không bao giờ trao một con vật nào mà chúng không có mối thiện cảm với chủ mới của chúng.

Gây quỹ

Ban đầu, các thành viên trong nhóm cùng nhau quyên góp và thành lập một quỹ nhỏ tên là Quỹ dành cho những người bạn mà dựa vào những đóng góp mang tính tình thế. Về sau, những người bạn và những người hàng xóm nhận ra việc làm tích cực của họ và bắt đầu quyên góp khuyến khích cả nhóm tiếp tục hoạt động phục vụ những loài vật đáng thương. Nhóm cũng cố gắng tạo ra nhiều biện pháp ủng hộ những con vật như là viết thuyết minh cho những cuộc thi mà ít nhất cũng có thể giúp mang lại cho chúng một chút thức ăn và dầu tắm trong vài tháng. Phí thức ăn hàng tháng và những lần đến thăm nhà cũng góp phần duy trì những nỗ lực của cả nhóm. Gần đây, Quỹ những người bạn nhận được sự tài trợ lớn từ một tổ chức Phật giáo.

Tác động đến cuộc sống của những người cứu trợ

Theo giáo lý đức Phật, lợi lạc của việc ban trải tình thương và lòng từ bi sẽ tích tụ lại dành cho những người sẵn sàng mở lòng từ bi nhất. Ðức Shantideva trong sự hướng đạo tới con đường Bồ tát đạo đã dạy rằng:

"Bất kì niềm hỷ lạc nào trên thế giới này

Tất cả đều xuất phát từ mong nguyện người khác được hạnh phúc

Và bất kỳ khổ đau nào trên thế giới này

Ðều xuất phát từ mong cầu làm bản thân mình hạnh phúc".

Do đó, thấu hiểu được điều này chúng ta nên mang lại hạnh phúc cho người khác hơn là chỉ tập trung mang lại hạnh phúc cho bản thân. Bồ đề tâm cũng sẽ được khai phát thông qua 7 chỉ dẫn tinh túy về luật nhân quả: coi tất cả chúng sinh như từ mẫu sẽ trở nên quan tâm hơn đến lòng tốt của họ, khởi phát mong nguyện muốn đáp trả lại lòng tốt, tình yêu thương, lòng từ bi của họ, có thái độ tâm nguyện chứng đạt được giác ngộ giải thoát.

Trong trường hợp của đội cứu trợ Metta Karuna, hầu hết các thành viên trong nhóm đều đã quen với chúng từ khi chúng còn nhỏ, đặc biệt những chú chó. Tuy nhiên, do họ làm công việc cứu giúp động vật, đã có những thay đổi về nhận thức của họ về loài vật. Trong khi Sumitra, Savinder, Hooi Chin và Lay Chin đã quen với những chú chó, mèo từ khi chúng còn nhỏ, phải mất một thời gian để Angeline and Yuen Foon quen với những chú mèo. Angeline là người đã nhận thức rõ hơn về các loài vật và yêu quý những chú mèo hơn trong vòng 4 năm qua. Cô cho biết: “Công việc cứu trợ rất bổ ích, vì thế giờ đây bất cứ khi nào có tin tức gì về loài vật (bao gồm những con mèo), tôi đều phấn khởi tìm đọc.” Yuen Foon, người không bao giờ động chạm đến hay thích, cho phép những con mèo ở bất cứ đâu lại gần, giờ đây cô cũng thấy ngạc nhiên thú vị khi thấy mình nuôi dưỡng những một chú mèo, và đặt tên Wamma đã ở cùng cô được hai năm. Tình yêu thương và lòng từ bi thực sự đã được lan tỏa. Nhìn cách Yuen Foon đã thay đổi, mẹ cô, người không bao giờ cho phép mèo vào trong nhà cũng bị lay động và chấp nhận Wamma là một loài vật nuôi trong nhà. Cha của Yuen Foon, người thường đuổi các chú mèo đi bây giờ cũng giúp cho mèo ăn bất cứ khi nào hai mẹ con đi vắng. 

Tất cả thành viên của nhóm đều hiểu rằng nguồn sức mạnh tập thể là rất quan trọng, việc trả về nhà một con vật bị bỏ hoang không thể thực hiện được nếu chỉ có một mình. Sumitra cho biết hiện nay cô đối xử với các con vật bị bỏ hoang rất khác so với trước khi tham gia vào công việc này. Sumitra cho biết “Lần trước, tôi thường đem những con vật bị bỏ rơi về nuôi và nếu không thể xoay sở để nuôi chúng, tôi sẽ thả chúng đi khi chúng có thể tự bảo vệ mình. Tôi không hề có ý nghĩ rằng sẽ mang trả chúng về nhà khác và tìm người nhận nuôi chúng.” Savinder cũng chia sẻ cảm giác tương tự và bây giờ cô nhận thức rõ hơn rằng có một cách khác không phải tạo áp lực lên mỗi thành viên trong nhóm phải chăm sóc những con vật bọ bỏ rơi.

Câu chuyện thấm thía nhất khiến Agnes đã hoàn toàn thay đổi là từ khi cô cứu chú mèo đầu tiên, Nana. Agnes, người không bao giờ quan tâm quá nhiều đến những con vật, chăm sóc chúng nhưng giờ đây bỗng nhiên trào dâng tình yêu thương sâu sắc trong trái tim cô trong quá trình cô chăm sóc cho Nana. Từ đó, Agnes đã đi tìm cứu giúp những con vật bị bỏ hoang, mỗi khi nghe thấy tiếng khóc ở bất cứ đâu, Agnes đều mở cánh cửa trái tim mình và cho Nana và Einder cư ngụ, chăm sóc chúng về y tế và sẽ không bao giờ cho ai nhận nuôi chúng nữa.

Những thử thách và đấu tranh cá nhân

Công việc cứu giúp những con vật nuôi là một nhiệm vụ khó khăn và buồn tẻ, với rất nhiều đêm mất ngủ và những xáo trộn về tình cảm. Một lần, Agnes phải bế một chú mèo mới bị mổ suốt cả ðêm vì sợ rằng chú sẽ liếm vào vết mổ hay nó sẽ bị cọ xát vào lồng. Những ðêm mất ngủ là một phần bình thường trong chăm sóc những chú mèo mới sinh bởi phải cho chúng ăn sau mỗi hai đến ba tiếng. Chính điều này Agnes đã làm cho hai chú mèo Nana và Sumitra cho đứa con Ari. Agnes và  Sumitra đã chăm sóc cho chú mèo ba ngày tuổi Ari cho chúng ta thấy rằng chúng ta có thể chăm sóc những con vật bị bố mẹ chúng bỏ rơi. Những phụ nữ này đã chứng minh rằng những định kiến chung của mọi người về chăm sóc những chú mèo con mới đẻ là một nỗ lực vô ích là hoàn toàn sai lầm.

Hầu hết các thành viên trong nhóm đều phải đối mặt với những than phiền từ phía gia đình, bạn bè bởi họ không thể chịu nổi mùi hôi, tiếng ồn và chủ yếu là sự xuất hiện của chúng trong nhà. Một lần chị của Agnes than phiền rằng “Anh có thể thức dậy chỉ vì một tiếng mèo kêu ở đằng xa nhưng không thể dậy nổi kể cả khi những tên trộm đã khoắng sạch cả nhà.” Angeline nhớ lại một tai nạn khi chị dâu cô một lần bắt gặp cô đang ngồi xổm bên một gian hàng lộng lẫy của khu chợ bên đường khi đang quảng cáo việc nhận nuôi những chú chó mèo này khi chúng đang bị nhốt trong lồng bên đường. Mẹ cô tình cờ biết được về chuyện này và sau đó Angeline không dám về nhà ăn tối mà cô đến thẳng ngôi chùa Phật dự lễ puja.

Yuen Foon and Savinder than vãn rằng một số thành viên trong gia đình không ủng hộ và nói những câu đại loại như “Tại sao lại dính dáng đến công việc này? Cô không thể cứu được cả thế giới đâu.” Thậm chí như vậy, những thành viên trong đội vẫn hoàn toàn đồng ý rằng nếu họ không thể cứu tất cả những con vật nuôi bị bỏ hoang trên toàn thế giới thì họ cũng mang lại một sự khác biệt rõ rệt với cuộc sống của những con vật mà họ đã cứu, bản thân điều này đã có ý nghĩa rất lớn đối với tất cả các thành viên của đội.

Những khó khăn khác xuất phát từ những người nhận nuôi do sự bốc đồng và mang trả lại chúng ngay sau đó. Agnes cho biết “đôi khi thấy rất buồn khi biết rằng có những người ban đầu tỏ ra rất tử tế và sẵn lòng nhưng hóa ra họ lại là những người chủ vô trách nhiệm”. Có những người nhận nuôi khi chúng còn bé rồi lại ruồng rẫy chúng, đặc biệt khi chúng đã lớn hơn, khiến chúng khó khăn hơn khi được nhận nuôi về một lần nữa. Ðôi khi niềm vui của việc tìm thấy người nhận nuôi chỉ kéo dài ngắn ngủi khi những người nhận nuôi có vẻ tiềm năng này lại thay đổi quyết định sau khi đăng ký ở chợ động vật nuôi trong nhà. Khi những con vật này bị trả về, cả đội lại cố gắng tìm kiếm trao trả chúng về nhà một lần nữa.

Sự thờ ơ của những ngýời chủ mới cũng là một thử thách không nhỏ đối với toàn đội. Có những lần khi các thành viên trong đội nhận được điện thoại từ những người chủ mới nói rằng những con vật nuôi đã bỏ đi hoặc bị chết do tai nạn hay ăn phải thuốc chuột. Sự thiếu quan tâm hay hoàn toàn thờ ơ của những người chủ mới khiến cả đội rất cẩn trọng và chọn lựa kỹ càng người nhận nuôi. Một số thành viên cũng trở nên sợ nghe tiếng điện thoại vì sợ phải nghe những tin xấu. Tuy nhiên, cả đội đều thấu hiểu rằng bản chất con người và chấp nhận rằng những điều này là không thể tránh khỏi và phải vượt qua những thử thách như vậy để tiếp tục công việc.

Kết luận

Theo lời dạy của đức Phật, không có loài vật nào chưa từng là mẹ của chúng ta vì chúng ta đã tồn tại từ vô thủy kiếp. Hạnh phúc của chúng ta có liên hệ mật thiết với người khác bởi vì tất cả chúng ta đều có sự tương tác lẫn nhau trong một hệ thống đa dạng của đời sống. Ðể chứng đạt giác ngộ giải thoát, chúng ta phải có lòng từ bi mà pháp thực hành chính yếu tố là Bồ đề tâm, căn nguyên của tất cả sự chứng ngộ. Do đó, dù chúng ta thực hành Nam truyền và Bắc truyền, thì gián tiếp hay trực tiếp đều phải thực hành khởi phát, trưởng dưỡng Bồ để tâm. Bồ đề tâm là nguồn gốc cho mọi sự chứng ngộ và đó là một điều tiên quyết vô cùng quan trọng trong con đường tu tập Phật giáo Ðại thừa.

Chúng ta có thể học được rất nhiều điều từ đội cứu trợ Metta Karuna. Qua những thiện hạnh của họ chỉ cho chúng ta thấy rằng không mất quá nhiều để đến với những người bạn động vật của chúng ta. Tất cả cần đến chỉ là một chút hiểu biết, một chút kiến thức cơ bản về chăm sóc loài vật và một trái tim nhân ái. Tôi rất cảm động và ngạc nhiên về những công hạnh tuyệt vời của họ trong việc giúp đỡ những con vật hoang mặc dù tất cả họ đều còn rất bận rộn với cuộc sống hàng ngày. Tôi có đến thăm họ mấy lần và cách họ trông những con vật, tổ chức việc nhận nuôi cho chúng và cung cấp thức ăn, chăm sóc y tế, mọi thứ đều hoàn hảo. Theo tôi, đây là một cách rất tốt để xã hội có thêm nhiều người tham gia vào đạo Phật. Ðồng thời tôi khuyến tấn mọi người ðặc biệt là phụ nữ trên mọi nẻo đường của cuộc sống hãy bắt đầu những dự án như vậy bởi phụ nữ thường từ bi và quan tâm hơn, và đây cũng không phải là một công việc nặng nhọc cần đến sức lao động chân tay. Ðiều lợi lạc chúng ta nhận được từ công việc này là vô kể bởi những loài động vật thực sự đang rất cần được bảo vệ. Như chúng ta nói, người bạn trong lúc hoạn nạn mới là nguời bạn tốt, tôi chắc rằng những người bạn động vật đáng yêu của chúng ta sẽ làm chứng cho điều này. Cuối cùng, xin kết luận bài viết bằng lời dạy của đức Dalai Lama đời thứ 14:

“Trong quá trình chúng ta đến với cuộc sống này, thực tế hay nói một cách khác, sự thật cơ bản mà chúng ta đối mặt một cách hiển hiện là nhu cầu đạt được hòa bình, sự an toàn và lợi lạc. Những hình thức cuộc sống khác nhau ở những mức độ khác nhau tạo nên những dân cư đông đúc trên trái đất này. Và dù cho họ có thuộc tầng lớp cao hơn như con người hay nhóm động vật thấp hơn là loài vật, về căn bản tất cả chúng sinh đều mong cầu hòa bình, yên ổn và bình an. Ðối với một sinh vật không biết nói cũng như đối với một con người, cuộc sống đều rất đáng quý. Thậm chí những loại côn trùng nhỏ bé nhất cũng mong tìm kiếm sự bảo vệ giữa những mối nguy hiểm đang đe dọa rình rập cuộc sống của nó. Chính vì mỗi chúng ta ai cũng muốn hạnh phúc và sợ khổ đau, vì mỗi chúng ta ai cũng muốn sống và không muốn chết, và tất cả những chúng sinh khác cũng đều như vậy". 

Người dịch: TN. Huệ Ðức
Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)

Sonam - Wangmo

Bao Hiem BSH
» Video
» Ảnh đẹp
» Từ điển Online
Từ cần tra:
Tra theo từ điển:
» Âm lịch