Thiền học
Duy Lực Ngữ Lục
03/09/2015 11:59 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng
Mục lục
Xem toàn bộ

220. HỎI: Con nghĩ rằng, hàng Phật tử chúng con, người nào quyết tâm cầu giải thoát thì tất cả những gì chướng ngại cho sự giải thoát của mình, phải tự mình san bằng, chẳng ai có thể san bằng giùm chính mình được. Nếu xét thấy điều đó có chướng ngại cho sự tu, dù có lợi về vật chất cũng dẹp bỏ, chẳng màng đến lời khen chê của thế gian, khen mà có hại thì không cần, chê mà có lợi cho sự giải thoát cũng hoan hỉ chấp nhận, phải tu đến kiến tánh mới có thể đền ơn tứ ân, có phải vậy không?

  • Ø ĐÁP: Trong đường lối tham thiền là không cho nổi biệt niệm, nên lợi hay hại không biết tới, chỉ là tham câu thoại đầu, chỗ nào cũng là câu thoại đầu, thì đâu còn gì có thể chướng ngại? Nếu còn ham thích lợi ích, thì bị lợi ích chướng ngại, bất cứ khen chê, chửi mắng cũng mặc kệ, không biết tới.

Đối với bậc tu sĩ ở trong chùa, nếu như không chướng ngại chánh tu của mình thì tất cả đều có thể tùy duyên, tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên. Hễ có chướng ngại, hoặc bị bắt buộc làm những việc phải đọa địa ngục, chẳng thà bỏ đi chỗ khác, vì mục đích của mình chỉ là đi đến giải thoát chứ không phải đi xuống địa ngục.

221. HỎI: Làm sao phân biệt chánh niệm và tà niệm?

  • Ø ĐÁP: Trước nhất phải xác định cái gì là chánh niệm? Chánh với tà là tương đối, khác hơn chánh niệm tức là tà. Niệm của chúng sinh sát-na sanh diệt chẳng ngừng, nên phải nhờ phương tiện của Phật dạy. Ví như chọn phương pháp tham Thiền thì nghi tình là chánh niệm, ngoài nghi tình ra, bất cứ nổi niệm gì đều là tà ; hoặc nghĩ “Tôi đang tham Thiền” ấy tức là tà, chứ đừng nói đến cái khác. Tại sao? Vì nghi tình là không biết gì cả, nếu ngoài cái “Không biết” còn biết đến “Ta tham Thiền” tức là tà, chứ chẳng phải niệm thiện là chánh, niệm ác là tà!

Kinh Kim Cang nói:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhơn hành tà đạo,

Bất năng kiến Như Lai”.

Theo người thế gian thì lấy sắc thấy ta, lấy âm thanh cầu ta, đâu phải tội lỗi gì mà nói là hành tà đạo? Lục Tổ nói: “Vô niệm niệm tức chánh, hữu niệm niệm thành tà”, nhưng chấp vào cái chánh cũng không được, phải “Tà chánh đều quét sạch, tánh Bồ-đề rõ ràng”.

222. HỎI: Nếu đi theo một pháp môn khác, có phải phản thầy không?

  • Ø ĐÁP: Nay người đời nói đến vấn đề “Phản bội”, nếu biết là sai vẫn nghe theo làm theo tức hại cho thầy mình, chứ không phải là thương thầy, vì giúp cho tạo tội khiến đọa địa ngục. Nay nếu không đủ sức cứu thầy mình thì phải chuyên tu, khỏi cần sanh tâm tách rời hay không, tất cả những gì chướng ngại cho sự tu đều không biết tới, kể cả sự tu của mình cũng không biết tới, huống là cái khác ! 

Phật và Tổ là muốn mình thực hành, tự giải thoát cho chính mình và giải thoát cho chúng sanh, ấy mới gọi là báo Tứ ơn: Ơn Phật, chúng sanh, thầy và cha mẹ. Nếu chúng ta thành Phật tức báo đủ tứ ơn, hễ tu không đúng mà bị đọa là hại, tức chiều theo vọng chấp của thế gian, làm sao báo được? Chiều theo vọng tâm mê chấp của thế gian là phải chấp cho càng sâu nặng thêm, nếu không thì bị chê là phản bội thầy. Nhưng sự thật chúng ta chỉ đi đúng theo lời dạy của Phật, của Tổ, không có phản bội.

Lại, nếu nói xa thầy là phản bội, ví như khi học hết tiểu học phải lên trung học, vậy đối với người thầy dạy tiểu học là phản thầy sao? rồi lên đại học thì phải xa thầy trung học, sau khi tốt nhgiệp đại học, đi du học nước ngoài, cũng là phản thầy sao? Lúc du học trở về, mặc dù trí thức lúc đó có thể làm thầy của thầy, nhưng gặp lại thầy tiểu học vẫn là thầy của mình, Tục ngữ Trung Quốc có câu: “Một ngày làm thầy, suốt đời là cha”, đâu có phản thầy?! Pháp thế gian chấp tướng còn như thế, huống là Pháp xuất thế gian phá tướng? Hai chữ “Phản thầy” là do người có tâm chấp thật mới sanh ra suy nghĩ như thế, ấy là nghịch với ý của Phật, của Tổ, cũng nghịch với lý thế gian vậy.

223. HỎI: Sự khác nhau giữa Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền như thế nào?

  • Ø ĐÁP: Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền hơi sai biệt; bên Giáo môn đạt đến Như Lai Thiền chứ chưa đến Tổ Sư Thiền. Trong Truyền Đăng Lục có một công án phân biệt về Như Lai Thiền và Tổ Sư Thiền như sau:

*Thiền sư Hương Nghiêm xưa kia vốn rất thông minh, nói một hiểu mười, ở nơi Bá Trượng học thiền rất lâu, do bị thông minh chướng ngại, không được kiến tánh. Sau khi ngài Bá Trượng tịch, đến ở với Qui Sơn, Qui Sơn là một Thượng thủ của Bá Trượng, cùng Hương Nghiêm vốn là sư huynh đệ với nhau, nay đã ra hoằng hóa.

Một ngày kia, Qui Sơn nổi lòng Từ bi muốn dẫn dắt Hương Nghiêm, hỏi:

- Theo sự hiểu biết của ông, trước khi cha mẹ chưa sanh, là cái gì? Hãy nói cho ta biết!

Hương Nghiêm trả lời không được, lục khắp các sách đã học vẫn tìm không ra, cứ yêu cầu Qui Sơn nói trắng ra.

Qui Sơn bảo: “Ta nói thì được rồi, chỉ e sau này ngộ sẽ chửi mắng ta”.

Cầu mãi vẫn chẳng chịu nói, trong tâm thắc mắc quá, bèn đem đốt hết tất cả sách vở, nói rằng:

“Nay chỉ làm một ông Tăng ăn cơm mà thôi”.

Hương Nghiêm từ giã Qui Sơn đi hành cước, vào trong núi ở một mình, tâm cứ nghi câu: “Trước khi cha mẹ chưa sanh mặt mũi bản lai ra sao? “Một ngày kia nhổ cỏ liệng cục đá trúng cây tre phát ra tiếng liền ngộ, mới biết thủ đoạn của Qui Sơn, hướng về phía Qui Sơn lễ bái.

Sau khi ngộ có làm một bài kệ, Qui Sơn nghe được nói với đệ tử Ngưỡng Sơn rằng:

- “Hương Nghiêm đã kiến tánh.”

Ngưỡng Sơn nói “Chưa chắc, để con đi thử một phen”.

Ngưỡng Sơn gặp Hương Nghiêm, nói: “Thầy nói ông đã kiến tánh, hãy nói thử xem!”

Hương Nghiêm làm bài kệ rằng:

“Năm xưa nghèo, chưa phải nghèo,

Năm xưa nghèo còn có đất để cấm dùi;

Nay nghèo mới thật nghèo,

Kể cả dùi cũng chẳng có”.

Ngưỡng Sơn nói: “Như Lai Thiền thì cho ông ngộ, Tổ Sư Thiền thì chưa. Hãy nói nữa xem!”

Hương Nghiêm nói: “Tôi có một cơ, nhìn vào trong đó, nếu vẫn chưa ngộ, chớ gọi Sa-di”.

Ngưỡng Sơn mới chấp thuận, rằng: “Mừng cho Sư đe đã ngộ Tổ Sư Thiền”.

Vì bài kệ trước vẫn còn lý giải được, bài kệ sau thì chẳng thể lý giải. Ví như Thiền tông có người hỏi Tổ Sư:

- Thế nào là Phật?

ĐÁP: “Cục cứt khô”.

Nếu là bên Giáo môn, hỏi thế nào là Phật thì phải trả lời: “Phật là người giác ngộ, gồm tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn v.v…”

Cho nên, Tổ Sư Thiền chỉ chú trọng thực hành, nếu khởi tâm tìm hiểu thì ngày càng xa vậy.

224. HỎI: Sau khi kiến tánh thành Phật, có thể biết được sự bắt đầu của vạn vật chăng?

  • Ø ĐÁP: Nói kiến tánh thành Phật, là kiến được tự tánh tức thành Phật. Thế thì nói “Tự tánh vốn là Phật”, được không? Nếu tự tánh vốn là Phật, tại sao lại biến thành chúng sanh? Nếu Phật có thể biến thành chúng sanh thì tu thành Phật cũng vô ích, sau này vẫn có thể trở thành chúng sanh. Nếu nói tự tánh là chúng sanh, thì dẫu cho tu cách nào cũng chẳng thể biến thành Phật! Nếu vốn chẳng phải là chúng sanh thì lục đạo luân hồi từ đâu ra? Vì có chúng sanh mới có lục đạo luân hồi, có lục đạo luân hồi mới có nhân quả!

Làm thiện sanh thiện đạo, làm ác sanh ác đạo, nay giả thiết trước kia tất cả chúng sanh đều như nhau, chẳng ai làm thiện, cũng chẳng ai làm ác, thì trước khi chưa khởi niệm làm thiện làm ác, ai lên thiên đàng, ai xuống địa ngục? Nếu chưa làm mà đã có người xuống địa ngục, người lên thiên đàng thì không có nhân quả!

Hiện nay, các nhà khoa học muốn tìm sự bắt đầu của vũ trụ, nhưng truy cứu mãi cũng chẳng được, nếu chiếu theo Tiến Hóa Luận của nhà khoa học, là con người do con khỉ tiến hóa mà thành, cho rằng cái nhân đầu tiên là một hạt nguyên tử cực nhỏ, vậy theo kiến thức mọi người cũng biết, từ thai nhi trong bụng mẹ phải trải qua mười tháng mới được hình thành, và thân này rõ ràng do cha mẹ sanh … mọi việc chẳng có sự bắt đầu thì làm sao ráng tìm được sự bắt đầu?!Cho nên, Đức Phật nói là “Vô thỉ” - Không có sự bắt đầu, vì tất cả đều do tâm tạo. 

Tại sao dám nói là Vô Thỉ? Vì thời gian chẳng có bắt đầu thì tất cả chẳng có bắt đầu.

225. HỎI: Xưa nay số lượng chúng sanh thành Phật có bao nhiêu?

  • Ø ĐÁP: Tôi đã nói cái căn bản rồi, mà ông còn chấp vào vấn đề này! Nếu chấp thật có chúng sanh thì phải có đơn vị và số lượng. Nay thử làm một bài toán: Hễ một chúng sanh thành Phật thì số chúng sanh bớt một và số Phật thêm một, phải không? Theo lời Phật nói: Nếu trong một đại kiếp có một ngàn chúng sanh thành Phật thì bây giờ đã chẳng còn chúng sanh nữa. Chớ nói một ngàn chúng sanh, hễ trong một đại kiếp có một chúng sanh thành Phật; trong mười đại kiếp, trong một trăm đại kiếp hoặc một triệu đại kiếp có một chúng sanh thành Phật, thì bây giờ cũng hết chúng sanh rồi! Tại sao? Vì thời gian không có số lượng, là vô số lượng!

Nếu số lượng chúng sanh có thể tính bằng đơn vị, lấy số lượng so sánh với vô số lượng, cho dù số lượng lớn nhất vẫn còn là nhỏ: Thí dụ cứ mỗi một triệu đại kiếp có một chúng sanh thành Phật, thì bớt đi một chúng sanh, bớt mãi số lượng sẽ hết, còn về thời gian không có sự bắt đầu, nên không bị hạn chế bởi số lượng.

Cho nên nói “Chúng sanh nghiệp thức” là không đúng, chúng sanh chẳng có bớt, cho đến tận vị lai; chúng sanh cũng bao nhiêu đó, Phật cũng bao nhiêu đó, chẳng thêm chẳng bớt. Vì có thật đâu mà thêm bớt! Kể cả nhân quả luân hồi cũng là việc trong chiêm bao, nay nếu ở trong chiêm bao truy cứu mãi, vẫn là việc trong chiêm bao, chỉ cần thức tỉnh là ra khỏi nhân quả luân hồi trong chiêm bao. Đức Phật cần chúng ta thức tỉnh, bằng không, dẫu cho Thiện tri thức giải thích tất cả giáo lý nhà Phật cũng là ở trong chiêm bao, chưa thể ra ngoài được.

226. HỎI: Tại sao Phật ở Kinh này nói khác, ở Kinh kia lại nói khác?

  • Ø ĐÁP: Tất cả lời nói của Phật kiến lập ra, như tứ đại, ngũ uẩn, Phật, chúng sanh, Bồ-đề, Niết-bàn v.v… chỉ là giả danh để phá sự chấp của chúng sanh, khiến mau được giác ngộ, mau được thức tỉnh để ra ngoài chiêm bao mà thôi. Mặc dù nói muôn ngàn đường lối, đủ thứ sai biệt, chỉ vì Từ bi muốn chúng sanh thoát khổ, tùy căn cơ trình độ của chúng sanh mà thuyết pháp, nên ở Kinh này nói khác, ở Kinh kia lại nói khác. Nếu như không hiểu ý Phật thì cảm thấy rất mâu thuẫn, kỳ thật chẳng có mâu thuẫn.

Chư Phật chư Tổ không có ý muốn gạt chúng sanh, chỉ vì chúng sanh chẳng thấu được lời nói của Phật, của Tổ, cho nên bị Phật gạt, bị Tổ gạt. Cũng như núi sông biển cả vốn chẳng có ý muốn chướng ngại người, tại người đi qua không được, nên bị núi sông biển cả chướng ngại. Do đó, các Tổ Sư Thiền tông sau khi kiến tánh rồi nói: “Sau này ta chẳng bị Phật gạt nữa”.

227. HỎI: Thế nào là thân trung ấm?

  • Ø ĐÁP: Nhiều người cho rằng hễ người chết rồi sẽ biến thành quỷ, ấy là tư tưởng sai lầm. Lục đạo gồm: Trời, người, A-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục, nghiệp quỷ chỉ là một loại trong lục đạo, chứ không phải là ai chết rồi cũng biến thành quỷ.

Ví như nói làm thiện sanh tam thiện đạo, làm ác sanh tam ác đạo, nếu thiện ác cân bằng, chưa thể phân biệt phải sanh thiện đạo hoặc ác đạo, gọi là thân-trung-ấm, tức thân trước chết rồi, thân sau chưa sanh, ở nơi chính giữa, gọi là trung ấm. Trong bảy ngày, nếu tâm hơi nghiêng về thiện thì sanh thiện đạo, hễ nghiêng về ác sanh tam ác đạo. Nếu trải qua bảy ngày mà vẫn chưa phân biệt thiện ác, lại thêm bảy ngày nữa, cứ trải qua bảy lần như thế, tức bốn mươi chín ngày thì phải đi đầu thai, người thế gian gọi là cúng cầu siêu bảy thất là vậy.

Mục đích cầu siêu là mong hướng dẫn người chết hướng tâm về thiện, nhưng nếu cúng bằng heo, gà, ảnh hưởng đến tâm ác, khiến đọa ác đạo chẳng ích lợi gì.

228. HỎI: Về vấn đề tu Thiền nhờ tự lực, và Tịnh Độ nhờ tha lực như thế nào?

  • Ø ĐÁP: Tất cả phương tiện của Phật dạy đều phải nhờ tự lực, phải tự ngộ chứ không thể nhờ tha lực. Nói Pháp môn Tịnh Độ nhờ tha lực là sai lầm; bởi tông chỉ của Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hành, cũng là nhờ tự lực. Nhất là về cái nguyện, khi đã phát đại nguyện rồi thì phải thực hành, ấy là nhờ tự lực. Niệm Phật cũng phải tự lực tự làm, chẳng được nhờ người khác niệm giùm.

Tông phái nào cũng phải nhờ tha lực, nhưng tự lực là chánh, tha lực là trợ duyên. Còn nói Thiền tông là nhờ tự lực chẳng nhờ tha lực cũng không đúng, tại sao? Thế có phải khi mình sanh ra đã biết tham Thiền đâu! Pháp môn này là do Phật dạy, ấy là trợ duyên; do chư Tổ truyền lại đời sau, ấy là trợ duyên; Thầy dạy chúng ta tham Thiền, ấy cũng là trợ duyên, là tha lực. Cho nên chẳng có Tông phái nào chỉ nhờ tự lực hoặc chỉ nhờ tha lực mà được, tại con người chấp tâm sai lầm thôi.

229. HỎI: Tác giả bài “Tứ Liệu Giản” có phải của ngài Vĩnh Minh không?

  • Ø ĐÁP: Ngài Vĩnh Minh là Tổ thứ ba của Pháp Nhãn Tông, đã kiến tánh triệt để, có tác phẩm Tông Kỉnh Lục gồm một trăm quyển rất danh tiếng. Hư Vân Thiền sư đã xem hết tất cả tác phẩm của Ngài, chẳng thấy bài kệ này. Trong Tứ Liệu Giản nói: “Có Thiền mà không có Tịnh Độ thì mười người tu chín người sai; có Tịnh Độ mà không có Thiền thì muôn người tu muôn người được; còn nếu có Thiền và có Tịnh độ, Thiền Tịnh song tu, như cọp mọc thêm sừng”. Chính bài kệ này đã là mâu thuẩn rồi. Tại sao? Nếu chỉ có Tịnh độ mà không cần thiền đã muôn người tu muôn người được, cần gì tu thêm Thiền để muôn phần mất hết chín ngàn! Vã lại, Tổ Sư đã kiến tánh làm sao lại có bài kệ tự mâu thuẩn kể trên !

230. HỎI: Thiền tông nếu chẳng thấy được Phật thì tu để làm gì?

  • Ø ĐÁP: Muốn tranh cãi về vấn đề chấp Phật hay không chấp Phật, trước tiên phải xác định chữ PHẬT này là gì, nên chấp hay không nên chấp. Thế thì theo ý ông, chữ Phật là gì? Giáo môn cũng có nói: “Nếu chấp Phật là thật có, ấy là chấp thêm; còn nếu chấp Phật là thật không, ấy là chấp bớt”, nếu tự tánh vốn là Phật thì chẳng thể biến thành chúng sanh; nếu tự tánh là chúng sanh thì dù tu thành Phật, sau này cũng sẽ biến thành chúng sanh. Lại, nếu tự tánh vốn là chúng sanh thì chẳng thể tu thành Phật, vậy chấp Phật để làm gì? Nói “Tu đến kiến tánh thành Phật”, vì chữ PHẬT nghĩa là giác ngộ, hễ giác ngộ gọi là Phật, Muốn giác ngộ phải tham Thiền, đến khi ngộ rồi gọi là Kiến tánh thành Phật, chứ chẳng phải Phật là một vị thần linh! Nếu trong tâm chấp phải có một ông Phật thật khiến cho mình ngộ thì vĩnh viễn không được ngộ.

231. HỎI: Nếu nói ngộ là Phật, Phật là ngộ thì thử hỏi ai là người ngộ, cái gì ngộ? Nếu không thì e rằng sẽ đi vào cái ngoan không!

  • Ø ĐÁP: Tại ông chấp cái có là thật có, chấp cái không là thật không, nên có câu hỏi này. Theo Phật pháp, chấp có thì bệnh còn nhẹ, chấp không bệnh nặng khó trị. Nên biết tự tánh là bất nhị, không có hai, lại, trong các Kinh Pháp Bảo Đàn, Kinh Duy Ma Cật, Kinh Kim Cang đều nói VÔ SỞ TRỤ; bất cứ nói pháp nào thật, pháp nào không thật đều là trụ, là nhị. Nói có AI thành Phật đã là nhị rồi, vì có người năng thành, có Phật sở thành, chẳng phải là tự tánh!

Lại, Tự tánh khắp mọi nơi, đâu có một chỗ để ông chỉ ra được! Nếu phải chỉ là “Ai”, ấy là ngã chấp. Tiểu Thừa phải phá ngã chấp rồi mới chứng quả A-la-hán, còn Đại Thừa phá ngã chấp rồi, phải phá luôn  chấp, tức chẳng có cái pháp để mình tu, chẳng có cái quả để mình chứng, phá hết mới gọi là Bồ-tát Đại thừa, nhưng cũng chưa phải đã thành Phật, vì còn cái tri giải về phá chấp.

232. HỎI: Tham thoại đầu phải trụ tâm vào đâu?

  • Ø ĐÁP: Tham thoại đầu muốn khởi lên nghi tình phải nhờ câu thoại, câu thoại đầu là cây gậy, nghi tình là đi, cũng như người cụt chân không đi được, phải nhờ cây gậy để đi, khi nào đi đến nơi rồi thì cây gậy không cần nữa, câu thoại tự mất. Tham thiền không phải là muốn ngộ câu thoại đầu, nhiều người lầm tưởng muốn hiểu câu thoại đầu, ấy là sai lầm, đó chỉ là cây gậy giúp cho mình đi, chứ không phải để hiểu cây gậy; hiểu cây gậy để làm gì? Nếu muốn ngộ câu thoại đầu thì Tổ Sư gọi là “Con chó đuổi theo cục xương”.

Nói đến “Ngộ” là ở trong chiêm bao thức tỉnh, chứ chẳng phải là giải quyết việc trong chiêm bao. Cây gậy là ở trong chiêm bao, thoại đầu cũng là ở trong chiêm bao, biết mình có tu có chứng cũng là ở trong chiêm bao, thấy Phật đến rờ đầu thọ ký cũng là ở trong chiêm bao …Việc ở trong chiêm bao, mặc dù giải quyết hết từng món một, vẫn chưa ra ngoài chiêm bao, vẫn còn phải chịu khổ trong chiêm bao. Phải ở trong chiêm bao thức tỉnh rồi mới được giải thoát tất cả khổ trong chiêm bao.

Chữ PHẬT là giác ngộ, tức ở trong chiêm bao thức tỉnh, người nào ở trong chiêm bao thức tỉnh, gọi là kiến tánh thành Phật, cho nên hễ có trụ là không được.

233. HỎI: Thế nào là Kiến hoặc và Tư  hoặc?

  • Ø ĐÁP: Đối với sự hiểu biết của chúng ta, Phật gọi là kiến hoặc hay mê hoặc, tức tri kiến mê lầm, không đúng với sự thật. Cái tư tưởng mê lầm của mình gọi là tư hoặc. Thừa Thanh-văn dứt hết các kiến hoặc và tư hoặc của Tam giới thì được chứng quả A-la-hán. Nay chúng ta dùng ý thức đi truy tìm đều là kiến hoặc, những gì tư tưởng của mình cho là đúng, hoặc chủ trương cho rằng Phật Thích Ca là đúng, ấy đều là tư hoặc, hoặc cho rằng Phật Thích Ca chẳng phải chơn thật, cũng là tư hoặc. Cho nên, tham Thiền không cho dùng ý thức phân biệt, nếu không thì tham đến trăm ngàn kiếp cũng không được kiến tánh vì không lìa được ý thức.

234. HỎI: Làm thế nào để nhìn vào hầm sâu đen tối?

  • Ø ĐÁP: Theo Kinh Đại thừa liễu nghĩa như Kinh Lăng Nghiêm, có thí dụ “Ngón tay chỉ mặt trăng”. “Ngón tay” là giáo lý kinh điển Phật, “Mặt trăng” là tự tánh: Muốn ngó thấy mặt trăng phải nhờ ngón tay chỉ; mặc dù đã có ngón tay chỉ chỗ mặt trăng, nhưng do mặt trăng bị mây đen che khuất, cũng như tự tánh của mình bị tham sân si, phiền não che lấp, chẳng thấy gì cả. Nhưng chính chỗ đen tối không thấy gì đó là chỗ ngón tay chỉ, Thiền tông gọi là “Hầm sâu đen tối”, phải nhìn ngay chỗ đó, khi nào có cơ hội, gió thổi tan mây đen thì mặt trăng được hiện ra.

Nay nhiều người chẳng chịu nhìn theo chỗ ngón tay chỉ, mà chỉ nhìn vào ngón tay, muốn ở nơi ngón tay tìm mặt trăng, cũng như ở trong Kinh điển tìm tự tánh vậy.

Nay tham câu thoại đầu không biết gì cả, cái nghi tình ấy tức chỗ ngón tay chỉ, tức chỗ hầm sâu đen tối, là chỗ có mặt trăng. Một ngày kia mặt trăng sẽ hiện ra ngay nơi đó.

235. HỎI: Thế nào là ban đầu thấy núi sông là núi sông, tu một thời gian rồi thấy núi sông chẳng phải núi sông, sau khi kiến tánh rồi thấy núi sông vẫn là núi sông?

  • Ø ĐÁP: Ấy là nghĩa ba câu. Tất cả Kinh Đại thừa liễu nghĩa đều có nghĩa ba câu đó, nhất là Kinh Kim Cang. Lúc đầu thấy núi sông là núi sông, là ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng của người thường, tu một lúc rồi thấy sự “Có” là huyễn hóa, cho đó là Không, tức núi sông chẳng phải núi sông, vẫn còn ở trong thế lưu bố tưởng sanh ra trước tưởng; trước kia thì chấp là phải, sau đó chấp chẳng phải, cũng là trước tưởng. Rồi tu đến cuối cùng được kiến tánh thì trước tưởng hết, chỉ còn thế lưu bố tưởng, cho nên núi sông vẫn là núi sông.

236. HỎI:Thế nào là “Một niệm muôn năm, muôn năm một  niệm”?

  • Ø ĐÁP: Bây giờ chưa kiến tánh, chưa tỏ ngộ thì đừng có cho là một niệm muôn năm hay muôn năm một niệm; nói một niệm muôn năm cũng là chướng ngại, nói muôn năm một niệm cũng là chướng ngại, đều là việc trong chiêm bao. Nếu đã ra ngoài chiêm bao rồi, nói một niệm muôn năm cũng được, nói một là một cũng được, bởi lúc đó chỉ còn thế lưu bố tưởng thôi. Nay hễ nói một niệm muôn năm thì chấp vào một niệm muôn năm; nói muôn năm một niệm thì chấp vào muôn năm một niệm, cứ ở trong thế lưu bố tưởng sanh khởi trước tưởng, cứ nói đến giáo lý cao siêu. Như Ngài Trung Phong nói: “Dẫu cho Phật Thích ca đem hết tất cả Phật pháp nhét vào bụng ông, cũng còn không dính dáng với sự thức tỉnh, còn là việc trong chiêm bao”.

237. HỎI: Tham Thiền để làm gì?

  • Ø ĐÁP: Học tham Thiền để làm gì? Để giải quyết vấn đề gì? Sư bà biết không? Là để giải quyết vấn đề của chính mình. Thông thường, mọi người nói đến TA, nhưng cái TA này là cái gì? Cái thân này có phải là TA không? Con nít từ bụng mẹ sanh ra thì chấp cái thân con nít là ta; đến khi lớn lên thì chấp cái thân người lớn là ta, khi tuổi già lại chấp cái thân già ấy là ta, đợi khi chết rồi, đem chôn xuống đất biến thành đất, có thể chấp cục đất đó là ta không? - Không được ư? Nếu cục đất chẳng phải là ta, thì người già chẳng phải ta, người lớn chẳng phải ta, con nít cũng chẳng phải ta, vậy mình giải quyết vấn đề gì? Rõ ràng là chẳng phải giải quyết cái thân này rồi! Vì nó sau này sẽ biến thành đất! Nhiều người dù nghe tôi nói như thế, vẫn chấp thật cái thân này, bởi thân này rõ ràng do cha mẹ sanh ra thì tại sao nói thân này chẳng phải ta!

- Nay truy cứu cha mẹ từng lớp một, có cha mẹ đầu tiên không? Nếu có, thì tôi xin hỏi: Cha mẹ đầu tiên có cha mẹ không? Nếu có cha mẹ thì chẳng phải cha mẹ đầu tiên, nếu không thì cha mẹ đầu tiên từ đâu ra? Có nhà khoa học nói là từ một hạt nguyên tử nhỏ tí ti dần dần hình thành con người, cứ tạm cho là đúng đi, thì sự hình thành phải theo từng cấp bậc; như bào thai mười tháng trong bụng mẹ, mỗi tháng có hình tướng khác nhau, đến tháng thứ mười thì hình thành một con người. Đem mười tháng chia thành mười cấp, mỗi cấp có hình tướng riêng biệt. Thế thì muốn hình thành một con người từ một hạt nguyên tử thì chẳng phải chỉ có mười cấp! Nay cho đó là một triệu cấp, mỗi cấp một năm, phải trải qua một triệu năm mới có thể từ một hạt nguyên tử  thành một con người. Bây giờ chúng ta chỉ thấy cấp thứ nhất là một hạt nguyên tử, và cấp thứ một triệu là một con người, khoảng giữa chẳng ai thấy, vậy chứng tỏ lý này không đúng sự thật! Nay rõ ràng thấy ai cũng có cha mẹ sanh, sao nói không đúng sự thật? Vì không có đời thứ nhất thì không có đời thứ nhì … đời thứ muôn muôn ngàn ngàn  từ đâu sanh ra? Có người cho là do trời tự nhiên sanh ra hai ông bà; hễ xưa tự nhiên thì nay cũng phải tự nhiên, sự thật thì lại chẳng phải như thế, cho nên Đức Phật nói là vô thỉ, chẳng có sự bắt đầu.

- Tại sao Phật nói là không có sự bắt đầu? Lấy gì để chứng tỏ? Nay mặc dù chúng ta chưa kiến tánh, nhưng vẫn chứng tỏ được: Muốn tìm sự bắt đầu thì phải tìm nơi thời gian, tìm mãi tìm mãi, thời gian chẳng có sự bắt đầu. Nếu thời gian chẳng có sự bắt đầu thì vũ trụ vạn vật chẳng có sự bắt đầu,  nên nói là “Vô Thỉ”.

- Đã chẳng có sự bắt đầu thì tất cả do đâu mà ra? Phật nói là “Nhất thiết duy tâm tạo”. Nay chúng ta không tin được. Tại sao? Vì nay còn đang ở trong mở mắt chiêm bao chưa thức tỉnh, trong chiêm bao có Phật Thích Ca hiện thân thuyết rằng: “Pháp này chẳng thật, cái bàn này chẳng thật, ghế này chẳng thật, kể cả thân này cũng chẳng thật” thì làm sao tin nổi,  bởi cái nào đều có thật chất mà! Đến khi chúng ta tham Thiền kiến tánh rồi, tức từ trong mở mắt chiêm bao thức tỉnh, lúc đó khỏi cần Phật Thích Ca giải thích, tự mình chứng tỏ  những gì có thật chất ấy đều chẳng thật.

- Nhắm mắt chiêm bao không cần tu, đến sáng là tự thức tỉnh, còn mở mắt chiêm bao nếu không tu thì không bao giờ thức tỉnh được. Cho nên Phật dạy chúng ta đủ thứ pháp môn tu hành để đi đến thức tỉnh.

- Cũng có người nói rằng “Ta chẳng chấp”, nếu thật sự chẳng chấp thì hãy thử ra ngoài hành lang, nhảy từ lầu ba xuống, xem có dám không? Cho nên, miệng nói là không được, phải thật sự thực hành đến lúc kiến tánh thì sẽ được thức tỉnh. Khi thức tỉnh rồi, sự hiểu biết trong chiêm bao, đúng hay không đúng có ăn thua gì đâu! Giáo lý cao siêu hay thấp kém đều là việc trong chiêm bao. Đã thức tỉnh thì tự do tự tại, chẳng còn bị cảnh giới chiêm bao ràng buộc, đó chính là mục đích của tham Thiền, chứ không phải là muốn chúng ta ở trong chiêm bao học cái này cái kia cho đầy bụng.

- Nay muốn ra ngoài chiêm bao, chỉ việc ôm chặt câu thoại đầu tham tới mãi, một ngày kia thình lình thức tỉnh, tự biết tự chứng tỏ, gọi là chứng ngộ.

238. HỎI: Ngay trong giây phút này, con thấy tâm được tự tại, chẳng biết sự tự tại này là do tâm ý thức gạt hay con đã thức tỉnh từ chiêm bao?

  • Ø ĐÁP: Dĩ nhiên là ở trong chiêm bao rồi! Kinh Lăng Nghiêm nói: “Cái biết tự tại đó, biết thanh tịnh đó, là cái bệnh đã thành từ vô thỉ”. Theo ngài Trung Phong thì đừng có biết tới gì cả, chỉ đề câu thoại đầu hỏi tới hoài, một ngày kia thức tỉnh thì sự biết đó chẳng phải cái biết bệnh. Bây giờ, biết tự tại cũng là bệnh, biết không tự tại cũng là bệnh.

Trong Kinh Lăng Nghiêm có đoạn nói “Kiến, văn, giác, tri, mắt thấy tai nghe, đều là bệnh đã thành từ vô thỉ”. Nhưng đoạn sau có nói: “Kiến, văn, giác, tri, vốn là Như Lai tạng, là tự tánh”, Tự tánh thì chẳng phải bệnh, thế thì làm sao phân biệt cái kiến, văn, giác, tri của Tự tánh, hay kiến, văn, giác, tri của  bệnh?

Kiến, văn, giác, tri của Tự tánh vốn chẳng sanh diệt, nó luôn luôn như thế. Còn kiến, văn, giác, tri của bệnh thì có sanh diệt, ví như con mắt thấy là sanh, không thấy là diệt; lỗ tai nghe là sanh, không nghe là diệt; cái ý biết là sanh, không biết là diệt. Còn cái không sanh diệt của Tự tánh chẳng có sự thấy và không thấy, nghe và không nghe, biết và không biết … Nay có biết tự tại là sanh, không biết là diệt, nên là bệnh từ vô thỉ, chẳng phải cái chẳng sanh diệt của Tự tánh.

239. HỎI: Quá khứ đã tạo bao nhiêu tội lỗi thì làm sao nhờ tham Thiền có thể thành Phật được?

  • Ø ĐÁP: Nói tội lỗi, nghiệp chướng, ví như căn nhà đen tối, Đức Phật có nói “Dù căn nhà đen tối một ngày đêm, hay một trăm năm, một ngàn năm, đốt cây đèn lên thì đen tối liền hết”. Như đang ở trong nhắm mắt chiêm bao, dẫu cho đi đầu thai thành trâu thành ngựa, theo nghiệp xoay chuyển, cũng là việc trong chiêm bao; Thân trong chiêm bao tạo đủ thứ tội, bị chính phủ bắt, đánh khảo, ở tù … sợ hãi quá, khi thình lình thức tỉnh thì tù tội trong chiêm bao, kể cả cái thân chiêm bao đi đâu mà tìm? Vì ấy chỉ là do tâm tạo mà thôi!

Cho nên, chư Phật chư Tổ dạy chúng ta cần sự thức tỉnh từ chiêm bao, thì dù sự đen tối chỉ là một đêm (dụ cho nghiệp chướng nhẹ), hoặc một triệu năm (dụ cho nghiệp chướng nặng), chỉ cần cây đèn đốt lên, cùng hết một lượt, chẳng có trước sau.

» Video
» Ảnh đẹp
» Từ điển Online
Từ cần tra:
Tra theo từ điển:
» Âm lịch