Thiền học
Duy Lực Ngữ Lục
03/09/2015 11:59 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng
Mục lục
Xem toàn bộ

300. HỎI: Để cho nghi tình vỡ, có cần gặp thiện tri thức không?

  • Ø ĐÁP: Trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Nếu tự mình không biết, phải nhờ thiện tri thức chỉ, nếu đã tự ngộ rồi, cứ chấp trước phải gặp thiện tri thức cũng không được”. Tự tánh đã sẵn thiện tri thức, khi chưa có đường lối để đi, phải nhờ thiện tri thức chỉ, đường lối đã rõ ràng thì phải đi đúng. Nay nhiều hành giả tham thiền đã nghe tôi giảng nhiều, tự cho là mình đi đúng, thực tế thì chưa, chỉ chín chữ “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ” cũng còn làm không đúng, còn làm chưa được, nói chi cái khác! Nếu đi đúng chín chữ trên, thì cứ tự đi, khỏi cần gặp thiện tri thức cũng được. Vì đến chứng ngộ rồi vẫn là vô sở đắc, nếu còn cho là mình đã chứng đã ngộ, tức có sở đắc, cũng còn chưa được.

Do đó, cần gặp thiện tri thức hay không là tùy người; người đã tin pháp môn, đã tin tự tâm, đi đúng đường lối rồi, có gặp hay không cũng có thể ngộ được. Trong Truyền Đăng Lục, có nhiều trường hợp phải gặp thiện tri thức, do thủ đoạn của thiện tri thức khiến ngộ, cũng có nhiều vị thấy người ta leo cây liền ngộ, đi đường bị vấp té cũng ngộ, bị người đánh cũng ngộ.

Có trường hợp một vị Tăng đi ngang qua chợ, gặp người mua thịt hỏi người bán hàng:

- Hãy cắt cho tôi miếng thịt nạc kia.

Người bán thịt trả lời: “Chỗ nào chẳng phải thịt nạc!”

Vị Tăng đó liền ngộ.

Có một vị thì đi trên đường gặp hai người đánh nhau, ông A đánh cho ông B một bạt tai, quát rằng: “Ông không có mặt mũi hay sao!” liền ngộ.

Tất cả đều là thiện tri thức, do công phu của mình đến mức rồi, gặp duyên liền ngộ, nếu không thì  thiện tri thức nào khiến cho ngộ được?

301. HỎI: Trong Tham Thiền Phổ Thuyết có câu: “Sanh diệt đã diệt, tịch diệt làm vui” là thế nào?

  • Ø ĐÁP: Do con mắt bệnh mới thấy hoa đốm trên không, nay thấy có sanh có diệt là tướng bệnh, tướng bệnh hết rồi tướng mạnh hiện ra, bệnh thì không vui, mạnh là vui. Nhưng, lúc bệnh chỉ hiện ra tướng bệnh, muốn tướng mạnh hiện ra phải hết bệnh, chứ đi tìm không được. Sanh diệt diệt rồi là hết bệnh, tịch diệt là tướng mạnh, bản thân tướng mạnh không có vui hay không vui, nhưng đối với tướng bệnh mà nói thì tướng mạnh là vui.

Kinh nói: “Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật”, nghĩa thật thì lời nói chẳng thể đến, suy nghĩ chẳng thể diễn tả, phải tự ngộ mới được. Muốn ngộ thì đừng nên tìm hiểu nữa.

302. HỎI: Trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Một niệm trí huệ thì Bát-nhã sanh, một niệm ngu muội Bát-nhã diệt”, làm sao biết là một niệm trí huệ hay một niệm ngu muội?

  • Ø ĐÁP: Một niệm trí huệ tức chẳng chấp thật, một niệm ngu muội là chấp thật; chẳng chấp thật là Bát-nhã sanh, chấp thật thì Bát-nhã diệt. Bất cứ chấp thật cái gì, chấp có chấp không, chấp chơn chấp giả, đều là chấp thật. Hễ chấp tâm thì phá tâm, chấp Phật thì phá Phật.

Tiền niệm bất sanh là tâm, có sanh là vọng tâm sanh, chẳng phải bản tâm. Bản tâm vốn chẳng sanh diệt, Phật tánh cũng vậy, nên nói: “Hậu niệm bất diệt tức Phật”, hễ có diệt là chẳng phải.

Nói “Phật tánh” cũng là bản tâm, không sanh không diệt tức tịch diệt, tịch diệt hiện tiền là Niết-bàn. Niết-bàn cũng do sanh tử mà có, sanh tử đã chẳng thật thì Niết-bàn cũng chẳng thật, nếu còn trụ nơi Niết-bàn tức còn thọ giả tướng, là ngã chấp vi tế, gọi là mê trí.

303. HỎI: Bài Vô Tướng Tụng trong Kinh Pháp Bảo Đàn nói: “Muốn ngộ Đại thừa thấy tự tánh, kính lễ tri thức chí tâm cầu”, Sư phụ giải thích là “Cầu nơi chẳng cầu gọi là chí tâm cầu”. Vậy thế nào là cầu nơi chẳng cầu?

  • Ø ĐÁP: Đối với hai chữ “Kiến tánh”, nhiều người cho là có cái năng kiến để thấy Phật tánh, như thế thành có năng sở, còn là tướng bệnh, chẳng phải kiến tánh. Nói KIẾN TÁNH là tự tánh hiện ra, nay tự tánh bị phiền não vọng tưởng che khuất, chẳng hiện ra được, tức tướng mạnh bị tướng bệnh che lắp, khi nào trị hết bệnh thì tướng mạnh tự hiện, chứ chẳng phải là có một người năng thấy, và tướng mạnh là sở thấy, ấy là sai, là nhị.

Tự tánh bất nhị, làm sao có cầu và chẳng cầu? Nếu chấp vào “Cầu” là không thấy tánh, chấp vào “Chẳng cầu” cũng không thấy tánh. Người thường ham chấp có sở cầu, tham thiền cầu kiến tánh cũng là cầu. Không được nổi niệm muốn cầu, hễ có sở cầu là tham mãi không kiến tánh được. Do đã có sở cầu rồi, nên nói “Cầu nơi chẳng cầu”. Nếu thật cầu pháp, là phải “Ưng vô sở cầu”, tức cầu nơi chẳng cầu; cầu giải thoát cũng vậy. Vì tự tánh có trói buộc đâu mà cầu giải thoát!

304. HỎI: Đối với pháp tham thiền và việc làm hàng ngày, làm thế nào tâm vô sở đắc?

  • Ø ĐÁP: Tổ Sư Thiền rất giản dị và triệt để, chỉ cần đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình hỏi tới hoài, tham liên tục và miên mật, tự nhiên tâm vô sở đắc. Nếu mống lên một niệm “Không muốn đắc” cho là vô sở đắc, mặc dù nghĩ như thế, cái “Không muốn đắc” đó đã làm không được rồi, ấy là biệt niệm, là tâm trộm cắp. Nay không cần khởi niệm muốn đắc hay không đắc, chỉ đề câu thoại đầu tham tới mãi, tự nhiên tất cả thân tâm thế giới đều quên, luôn cả tên tuổi cũng quên, tham thiền cũng quên, làm gì có đắc hay không đắc?

305. HỎI: Trong bài Vô Tướng Tụng nói: “Nếu người thật chơn tu, chẳng thấy lỗi thế gian, nếu thấy lỗi của người, trái lại thành tự quấy. Người quấy ta chẳng quấy, thấy quấy thành tự lỗi. Nếu bỏ tâm chấp quấy, phiền não đều tan rã”. Vậy làm sao bỏ được tâm chấp quấy? Ấy là do tự tu mà được hay do học được?

  • Ø ĐÁP: Muốn bỏ tâm chấp quấy, chẳng phải do hiểu hay do học mà được. Nói “Bỏ tâm chấp quấy” là bỏ ngã chấp của mình, “Thấy lỗi của người” là chấp ngã. Ngã và người là tương đối, là bệnh chấp đã thành từ vô thỉ, muốn bỏ cũng bỏ không được, nên Đức Phật mới dạy đủ thứ phương tiện. Bây giờ mình tu Tổ Sư Thiền, chỉ cần đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình, không bỏ nó tự bỏ, nếu không tu mà cố ý muốn bỏ là bỏ không được, cho nên Lục Tổ nói là phải tự tu, tự chứng, tự ngộ.

306. HỎI: Tại sao Lục Tổ đã tự ngộ, còn phải gặp Ngũ Tổ giảng đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” rồi ngộ thêm một lần nữa?

  • Ø ĐÁP: Ngài Lai Quả thí dụ: Như đã đến trước cửa thiền đường, nhìn vào trong thấy được tất cả, nhưng chỉ rõ phần trước, phần sau thì mờ. Phá được Trùng quan là vào trong nhà, nhìn thấy rõ hơn lúc đứng ở ngoài. Nhưng đối với Tổ Sư Thiền, nói diệt Phật thì dễ, diệt ma thì khó, phải phá được Mạt hậu lao quan rồi, cả Phật lẫn ma đều quét sạch, lúc đó làm gì cũng chẳng chướng ngại. Dù Lục Tổ đã ngộ, có thể chỉ là Sơ quan, sau khi nghe Ngũ Tổ giảng Kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ Tâm”, liền ngộ triệt để.

307. HỎI: Thế nào là đắc Bồ-đề tâm?

  • Ø ĐÁP: Bồ-đề tâm là vô sở đắc, đắc tâm vô sở đắc, mới tương ưng với pháp. Nếu khởi tâm muốn đắc là có sở cầu, có sở cầu ắt có sở sợ.

308. HỎI: Tại sao nói giáo điển là việc hôm nay?

  • Ø ĐÁP: Mục đích Phật pháp của Phật Thích Ca là muốn độ hết tất cả chúng sanh, khiến đều giác ngộ thành Phật. Thành Phật chẳng phải là trở thành một vị thần, mà là từ chiêm bao thức tỉnh, dứt hết khổ trong chiêm bao. Phật pháp mặc dù phổ biến khắp tất cả chúng sanh, nhưng thực hành thì mỗi chúng sanh tự đi đến chỗ giác ngộ.

Muốn đạt đến giác ngộ cuối cùng phải nhờ tự lực, Kinh Pháp Bảo Đàn nói “Từ nghi đến ngộ”, tự ngộ mới là kinh nghiệm của chính mình, còn tam tạng giáo điển, tất cả Phật pháp là sự ngộ của Phật Thích Ca.

Tôi thường thí dụ: Ví như ăn đường, từ nhỏ chưa ăn qua, chỉ nghe người nói vị ngọt của đường như thế nào, có bao nhiêu calory… tự cho là mình đã biết đường là gì rồi, thực tế thì chưa nếm qua. Nay dù đem hết sự hiểu biết của mình, viết thành cuốn sách về vị ngọt của đường, cuối cùng chẳng biết ngọt là thế nào. Đến một ngày nào, cơ duyên chín mùi, có người mang đến cho ăn thử một phen, lúc đó mới thật biết như thế nào.

Đường là vật chất, còn phải qua kinh nghiẹm thực tế mới biết, huống là tự tánh vô hình vô tướng! Làm sao có thể ở trong Tam tạng giáo điển tìm thấy được? Chỉ càng tìm càng xa, vì đó chỉ là lời của người khác, chẳng phải do tự chứng. Nếu chấp vào đó, chẳng những che khuất bản lai diện mục của mình, vĩnh viễn không được kiến tánh.

Cho nên, Tổ sư có một bài kệ:

Gió động tâm thổi cây,

Mây sanh tánh nổi trần.

Nếu rõ việc hôm nay,

Che khuất mặt bổn lai.

Giải: Thấy gió động là tự tâm thổi cây, chứ chẳng phải gió, thấy mây sanh là tánh nổi bụi trần, nếu thấu rõ hết việc hôm nay thì mặt mũi bản lai của mình bị che khuất.Từ gió thổi mây bay, nhà cửa cây cối, cho đến Phật pháp kinh điển, đều là việc hôm nay, bây giờ tham thiền là muốn ngộ biết mặt bản lai, phải dẹp hết tất cả việc hôm nay.

309. HỎI: Đến Thập Địa Bồ-tát, phá được một phần vô minh thì chứng được một phần Pháp thân, vậy từ cảnh giới này sang cảnh giới khác, có phải còn pháp chấp vi tế?

  • Ø ĐÁP: Giáo môn có hai thứ sanh tử: Phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Dứt hết phần đoạn sanh tử rồi còn biến dịch sanh tử, tức pháp chấp chưa hết, cho đến Thập Địa Bồ-tát, còn những tập khí xuất thế gian vi tế, phải đến Đẳng Giác, bước qua Diệu Giác mới hết.

310. HỎI: Người hạ căn làm sao khỏi bị trận mưa lớn, mới tiến dần lên trung căn, thượng căn?

  • Ø ĐÁP: Đối với các pháp môn khác mới có phân biệt thượng, trung, hạ căn, còn Tổ Sư Thiền không phân biệt căn khí, sơ tham lão tham, già, trẻ, thông minh hay ngu si dốt nát đều bằng nhau. Sở dĩ có thí dụ “Trận mưa lớn” trong Kinh Pháp Bảo Đàn, là vì Lục Tổ Từ bi, muốn cho chúng ta biết: Người tiểu căn quá chấp thật, nên bị mưa lớn cuốn trôi. Nếu chẳng chấp liền trở thành thượng căn.

Cho nên Bác Sơn Hòa Thượng nói: “Hạ căn có thể chuyển thành thượng căn, mạt pháp chuyển thành Chánh pháp”, vì tất cả đều do tâm tạo. Lại, Lục Tổ nói: “Một niệm trí huệ thì Bát-nhã sanh, một niệm ngu mê thì Bát-nhã diệt”. Bát-nhã sanh là thượng căn, Bát-nhã diệt là hạ căn. Tại sao gọi là trí? Chẳng chấp thật là trí, chấp thật tức ngu muội. Ngoài ra, ngài sợ người chấp vào lời nói của ngài, nên nói: “Nay ta gượng nói ra, khiến ngươi bỏ tà kiến. Chớ hiểu theo lời nói, mới cho biết ít phần”.

311. HỎI: Tại sao nói kiến tướng phi tướng mới thấy Như 
Lai?

  • Ø ĐÁP: Kinh Kim Cang nói: “Phàm tất cả tướng đều là hư vọng, nếu thấy tất cả tướng chẳng phải tướng, mới thấy Như Lai”; tướng có là tướng, tướng không cũng là tướng, tướng chẳng có chẳng không, cũng có cũng không cũng là tướng. Chớ cho là chỉ cần lìa tướng có, còn tướng không thì khỏi cần lìa, nếu chấp vào tướng không, bệnh càng thêm nặng. Tại sao? Vì hễ chấp CÓ thì dùng KHÔNG để trị, còn chấp KHÔNG thì khó dùng tướng CÓ để trị, do mọi người đều coi đó như là bệnh rồi.

Nói “Lìa tướng”, nay nhiều người nghiên cứu kinh điển, hay hiểu lầm chữ “Lìa”, nếu thật sự có lìa là nhị, có ta năng lìa, có tướng sở lìa thì chưa được lìa, vì năng sở rõ ràng. Như Kinh Viên Giác nói: “Tri huyễn tức lìa, lìa huyễn tức giác”, đều chấp thật có huyễn có vọng để lìa, chẳng biết chỉ có “Không chấp thật” đã là lìa, đã là giác. Nếu chẳng chấp huyễn là thật thì tức huyễn tức chơn; nếu chấp huyễn là thật thì chơn cũng là huyễn.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vọng với chơn là hai thứ vọng”, chẳng chấp vọng, chơn là thật, ấy tức lìa. Nếu chấp cho là thật mà muốn lìa, là đuổi theo lời nói, bị huyễn  dính mắc, chẳng hiểu nghĩa chữ lìa.

312. HỎI: Con người từ đâu đến? Chết đi về đâu? Tu kiếp này chưa giải thoát, sau khi chết quên hết rồi, kiếp sau làm sao tiếp tục?

  • Ø ĐÁP: Tham Tổ Sư Thiền chính là phải giải quyết việc này trước khi chết. Người thường chấp thân ngũ uẩn này là ta, sau khi chết đem đi thiêu thành tro, chôn thành đất, nếu thật là ta, chẳng lẽ đống tro, cục đất là ta sao? Nếu tro đất chẳng phải ta thì thân này chẳng phải ta, vậy ta chơn thật là gì? Từ đâu đến? Đi về đâu? Phải tự ngộ mới được.

- Còn nói đến sự tu tạp từ nhiều kiếp hay tu trong một kiếp rồi sau đó sẽ quên, thức thứ tám còn gọi là hàm tạng thức, tức như một hạt giống giữ trong kho tàng, chẳng kể bao lâu, khi khởi lên hiện hành rồi mới mất. Khi còn bé khởi lên một niệm, tưởng chừng đã quên mất, nhưng sự thật là không quên, đến khi lớn lên, thình lình gặp cảnh duyên rồi nhớ lại, gọi là hàm tạng. Ví như tham Thiền, dù chỉ tham có một ngày rồi chết, cũng tạo được cái nhân vô vi, kiếp sau hay nhiều kiếp sau, cơ duyên chín mùi, sẽ được quả vô vi.

Nay chúng ta chưa ngộ, đâu thể biết được đã tu nhiều kiếp hay không, nhưng nếu nhiều kiếp chẳng tu thì đại chúng làm sao có nhân duyên cùng hội tụ ở đây nghe tôi giảng về pháp môn Tổ Sư Thiền? Lục Tổ có nói: “Các người hôm nay đến đây nghe tôi thuyết pháp, đã gieo trồng thiện căn từ bao nhiêu kiếp rồi“. Nếu không gieo trồng thiện căn, như bà lão ở thành Đông hồi đời Phật, dù sanh cùng giờ, cùng ngày, cùng năm với Phật cũng chẳng thể gặp được. Do đó, Kinh Kim Cang nói là:

“Đã gieo trồng thiện căn từ vô lượng Phật”, mới có thể tin vào pháp môn này, tu theo pháp môn này.

313. HỎI: Người tham Thiền chúng con, đa số sai phạm vào đường lối thực hành tham Tổ Sư Thiền, vậy xin Sư phụ Từ bi chỉ dạy thêm.

  • Ø ĐÁP: Trong cuốn Đường lối thực hành tham Tồ Sư Thiền nói: Người tham thiền phải chú ý đến 10 điều, điều thứ nhất là PHÁ NGÃ CHẤP, VÔ SỞ ĐẮC, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ SỢ. Phật pháp là Chánh pháp, phải phá ngã chấp mới có thể đạt đến tự do tự tại, thoát khỏi sanh tử luân hồi. Ngoại đạo mặc dù thiền định rất cao, cũng tu có thần thông, do không phá ngã chấp, nên không được giải thoát.

Ngoại đạo cũng có năm thứ thần thông, nhưng không được lậu tận thông, phải tu theo Chánh pháp, ngã chấp phá hết rồi mới đạt được. Khi phá hết ngã chấp, vọng tưởng sạch rồi, tự tánh vốn sẵn thần thông, biến hóa vô lượng vô biên chẳng bị thời gian, không gian, số lượng hạn chế.

- Nếu hạ quyết tâm vì giải thoát khổ sanh tử, phải tham đúng tông chỉ của Tổ Sư Thiền, nhất là điều thứ nhất, nếu vi phạm chín chữ này, sẽ lọt vào tà ma ngoại đạo. Nay có một số hành giả, sau khi tham dự thiền thất năm, bảy lần tại Chùa Từ Ân, tự cho là đã hiểu thấu, tự làm tài khôn lãnh đạo người khác tham thiền, thuyết pháp dạy người tìm hiểu thêm, chẳng những không phá được ngã chấp, lại tăng thêm ngã chấp, ấy là nghịch với ý chỉ Tổ Sư Thiền. Những người như thế sau này chắc chắn sẽ đọa địa ngục.

- Trong Kinh Lăng Nghiêm nói có bốn thứ địa ngục:

1. Phỉ báng Đại thừa.

2. Phá Phật luật nghi.

3. Cuồng vọng thuyết pháp, lấy ý mình thay cho ý Phật.               

4. Hư tiêu tín thí.

Chẳng có chơn thật tu hành, tự giác giác tha mà lãnh thọ sự cúng dường của mười phương, thọ nhận Phật tử cung kính lễ bái, chẳng biết điều đó rất nguy hiểm, chẳng phải là phước báo đâu. Tín đồ bố thí mà tự mình chẳng có sự chơn tu, không biết tự giác giác tha, đọa địa ngục chịu hết khổ báo xong, còn phải đầu thai thành trâu ngựa trả nợ thí chủ.

- Trong Tam Bảo, tại sao bậc tu sĩ được gọi là Tăng Bảo? Vì nếu có Phật Bảo, Pháp Bảo, chẳng có Tăng Bảo, không ai thay Phật trực tiếp giáo hóa chúng sanh thì Phật pháp phải tiêu diệt; do có Tăng Bảo truyền thừa, Phật pháp mới thường trụ nơi thế gian. Đã được thế gian tôn xưng là Tăng Bảo rồi, phải có tư cách làm Tăng, nếu không tức là hư tiêu tín thí, tạo tội địa ngục.

- Tôi nói như thế chẳng phải là ai ai cũng phải biết thuyết pháp, cũng biết dạy chúng sanh. Không biết thuyết pháp, nhưng thân này giữ đúng luật nghi, làm gương mẫu cho người đời nương theo, khiến cung kính Phật pháp, cũng là giáo hóa chúng sanh. Do đó, trong Giới luật nhà Phật quy định: Tỳ-kheo phải học mười năm mới được xa thầy,Tỳ-kheo-ni mười hai năm, sau đó mới được tự lập, thu nhận đệ tử. Suốt đời chỉ được nhận ba người đệ tử, cũng chẳng được thu nhận một lúc, phải nhận từng người một, dạy cho thấu hiểu Phật pháp rồi, mới được nhận tiếp người thứ hai, rồi người thứ ba. Nếu nhận đệ tử mà không biết dạy, đệ tử tạo tội địa ngục là do lỗi của người thầy, hai người cùng đọa địa ngục. Nếu thầy đã dạy mà đệ tử cố sai phạm, lỗi tại người đệ tử, chứ thầy không phải chịu trách nhiệm.

314. HỎI: Tại sao tham thiền có một thời gian rất buồn ngủ, không thể cưỡng lại được. Mà trong Đường lối tham thiền thì nói là không được đè nén vọng tưởng, vậy phải làm sao?

  • Ø ĐÁP: Giai đoạn buồn ngủ đó, hành giả nào cũng phải trải qua. Bước đầu tham thiền, thấy vọng tưởng nổi lên nhiều hơn lúc chưa tham, kế đó, vọng tưởng bớt rồi sẽ cảm thấy rất buồn ngủ, có thể trải qua mấy tháng hoặc một năm mới qua khỏi giai đoạn này. Đến giai đoạn này, nếu hành giả ráng thức được thì thức, không cố được thì ngủ, ngủ dậy rồi tham tiếp. Một thời gian sau sẽ hết.

315. HỎI: Trong quá trình tập tham, con thường có những nỗi lo âu và thắc mắc, nhưng không biết đó là gì? Xin Sư phụ Từ bi chỉ dạy.

  • Ø ĐÁP: Lai Quả Thiền Sư Ngữ Lục và Thiền Thất Khai Thị Lục nói: Người hành giả tham thiền đến một mức độ nào, sẽ có những cảm giác như sư vừa trình bày; thấy trong lòng không yên nhưng không biết tại sao. Đối với người đời thì đây là do sự lo âu vì cuộc sống, còn đối với hành giả tham thiền, cảm thấy bức rứt không yên, là vì chưa được kiến tánh, chưa thể giải thoát. Nói tóm lại, sự không yên của thế gian là đuổi theo ngã chấp, còn hành giả tham thiền là chưa phá được ngã chấp, chưa phá hết ngã chấp nên không yên. Nhưng không cần lo âu, cứ giữ mãi câu thoại đầu tham tiếp, hễ có đi là sẽ đến nơi.

316. HỎI: Tại sao Minh Bổn Thiền sư trong cuốn Trung Phong Pháp Ngữ về bài Khai Thị cho Thượng nhơn Mục nói: “Câu thoại đầu mình tham là bệnh, hễ mắc vào tất cả kiến văn giác tri là bệnh”, lại, ở đoạn sau Ngài nói: “Muốn trị dứt các bệnh, chẳng có cách nào hơn, chỉ có thiết tha tham câu thoại đầu”. Vậy, ngài nói về câu thoại đầu ở đoạn trước là kiến, văn, giác, tri, đoạn sau thì chẳng phải kiến, văn, giác, tri ư?

  • Ø ĐÁP: Trong Kinh Lăng Nghiêm, có một đoạn ở trước nói về kiến, văn, giác, tri như sau:

Phật nói với A-nan: “Nay ngươi thấy ta, thấy núi sông đất đai, nhà cửa cây cối … đều là kiến bệnh đã thành từ vô thỉ”

Ở đoạn sau Phật lại nói: “Tất cả kiến, văn, giác, tri là Như Lai Tạng” tức tự tánh. Hai đoạn khác nhau, vậy làm sao phân biệt giữa kiến, văn, giác, tri bệnh và kiến, văn, giác, tri tự tánh?

Cũng chính ở Kinh Lăng Nghiêm nói: “Kiến, văn, giác, tri của tự tánh chẳng sanh diệt, còn kiến, văn, giác, tri bệnh thì có sanh diệt”. Tại sao nói có sanh diệt? Vì hễ thấy là sanh, không thấy là diệt; có nghe là sanh, không nghe là diệt … còn kiến, văn, giác, tri của tự tánh, từ vô thỉ đến bây giờ, luôn luôn như thế, chẳng gián đoạn, chẳng sanh diệt, thấy hoặc không thấy cũng luôn luôn như thế. Do đó, chẳng có sự thấy hay không thấy, nghe hay không nghe, tri giác hay không tri giác v.v… phân biệt ở chỗ có sanh diệt và không sanh diệt.

Bây giờ tham thoại đầu, chỉ là tạm mượn câu thoại đầu để khởi lên nghi tình, như hai chân yếu không đi được, phải tạm mượn cây gậy để đi. Câu thoại đầu là cây gậy, nghi tình là đi. Khi nào đến nơi rồi cây gậy phải bỏ, nếu chấp vào cây gậy là bệnh. Cho nên, hễ tìm hiểu câu thoại đầu là bệnh, phải nhờ câu thoại đầu khởi lên nghi tình, đi đến chỗ chẳng có bệnh.

317. HỎI: Lúc trước con bắt đầu công phu từ ba giờ khuya, nhưng gần đây mới chỉ mười hai giờ hoặc một giờ khuya là con đã thức giấc rồi, vậy có sao không?

  • Ø ĐÁP: Tham thoại đầu là hai mươi bốn giờ không gián đoạn, chứ không phải là bắt đầu từ ba giờ khuya. Nói “Ba giờ mới bắt đầu” ấy là sự bất đắc dĩ, bất cứ giờ nào, bất cứ nơi nào đều phải có công phu. Do công phu của mình chưa đến thoại đầu, chưa thành khối, nên có sự gián đoạn. Ví như ngủ quên, ấy là bất đắc dĩ, khi công phu thuần thục rồi, thành khối rồi, ngủ quên cũng có thoại đầu.

318. HỎI: Tạo tất cả tội, làm sao được kiến tánh?

  • Ø ĐÁP: Tại sao tạo tất cả tội? Tại chấp ngã, chấp thân này là ta, do ngã chấp mới tạo tất cả tội, vì có TA mới phải chịu tội, nếu không có ta, ai chịu tội? Hễ phá được ngã chấp là kiến tánh. Tất cả tội ác là việc trong chiêm bao, bây giờ tướng bệnh hiện hành thì tướng mạnh ẩn, nếu tướng mạnh hiện ra tức tướng bệnh hết, thấy được Pháp Vương của mình, từ chiêm bao thức tỉnh, nhân quả trong chiêm bao đi đâu tìm? Làm sao còn khổ và phiền não? Không giải thoát cũng phải giải thoát.

* Có người hỏi Tổ Đạt Ma: Người thế gian đủ thứ tu tập, tại sao chẳng đắc đạo?

Tổ sư đáp: Tại thấy có TA nên chẳng đắc đạo. Nếu chẳng thấy có ta thì tự nhiên đạt đạo. Vì “Ta” còn quên thì có gì không quên ư?

319. HỎI: Nếu pháp đã không thì ai cần tu đạo?

  • Ø ĐÁP: Có “Ai” mới phải tu đạo, nếu không có “Ai”, đâu cần tu đạo! Kỳ thật, sanh tử, Niết-bàn, giải thoát, Bồ-đề v.v.. đủ thứ tên gọi đều do chấp tâm của mình đặt ra, cũng như do chấp tâm mới có câu hỏi này, cho là có sự nhất định. Không biết tất cả đều chẳng thật, chẳng có tự tánh, chẳng có sự nhất định: Tạo phước cũng chẳng có sự nhất định, tạo tội cũng chẳng có sự nhất định. Nếu có nhất định thì  là một thế giới chết, chẳng có biến đổi, chúng sanh vĩnh viễn là chúng sanh, Phật vĩnh viễn là Phật. Thế thì khỏi cần tu tập, tu cũng chẳng thể thay đổi, chẳng thể giải thoát. Vì nếu tự tánh vốn là chúng sanh thì tu cách mấy cũng không thể thành Phật; nếu tự tánh vốn là Phật thì không thể biến thành chúng sanh. Tại ông bệnh chấp quá nặng, chấp có chúng sanh thật để tạo tội, có Phật thật để giải thoát, nên trí huệ bị che khuất.

» Video
» Ảnh đẹp
» Từ điển Online
Từ cần tra:
Tra theo từ điển:
» Âm lịch