Thiền học
Duy Lực Ngữ Lục
03/09/2015 11:59 (GMT+7)
Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng
Mục lục
Xem toàn bộ

400. HỎI: Nếu nói như thế là vô cùng tận, nhưng vì con nghĩ luận cứ trong đó có phần không đồng nhất?

  • Ø ĐÁP: Hễ chấp thật thì nhất định phải có cái trước cái sau, cây dừa khác hơn trái dừa. Cái nào trước, cái nào sau? Cả hai đều không đúng, vì do chấp thật, nên nói hễ chấp thật là tà tông. Việc thế gian còn như thế, huống là việc xuất thế gian? Vì chấp Phật là thật, nên nói “Vốn là Phật”, chấp chúng sanh là thật, nên nói “Vốn là chúng sanh”; có chấp thật nên mới có sự mê ngộ, nói mê là chúng sanh, ngộ là Phật. Chấp về bên nào cũng không đúng, còn nằm trong tương đối.

401. HỎI: Vừa tham thiền vừa đi cúng dường có đúng với Chánh pháp không?

  • Ø ĐÁP: Phật pháp thường trụ tại thế gian gồm tứ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni là chúng xuất gia; Ưu bà tắc, Ưu bà di là chúng tại gia. Bậc tại gia có bổn phận cúng dường bậc xuất gia, bậc xuất gia phải có bổn phận tu giải thoát, tự giác giác tha để giải thoát cho bậc tại gia. Nếu bỏ bổn phận thì Phật pháp không thành.

Nay người tu pháp môn Tổ Sư Thiền, chỉ đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình, ấy là việc chánh, còn sự cúng dường chỉ là việc phụ. Nay chỉ lo cho việc chánh, còn sự cúng dường, luôn cả việc đời sống … ấy là việc phụ, muốn cúng dường còn phải tùy theo sức mình, tùy thuộc vào điều kiện đời sống …

Việc chánh là bất cứ lúc nào, nơi nào, đều phải đề câu thoại đầu tham tới mãi, còn việc phụ thì tuỳ duyên bất biến, bất biến tùy duyên, hễ gặp thì làm, làm xong quên luôn, khỏi cần tính toán, khỏi cần ghi nhớ trong tâm, ấy là chướng ngại.

402. HỎI: Lục Tổ nói: “Đối trước cảnh thiện ác, tâm niệm chẳng khởi là tọa, trong thấy tự tánh bất động là thiền”. Vậy đối với hành giả tham thiền, thế nào là niệm khởi và niệm chẳng khởi?

  • Ø ĐÁP: Kinh Lăng Nghiêm nói: “Vô minh bắt đầu bởi giác minh thành lỗi lầm”. Bản giác tức tự tánh, vốn chẳng phải minh hay vô minh, hễ chấp vào cái minh thì phải có sở minh, rồi có năng minh. Minh là biết, Kinh nói “Chữ BIẾT là cửa của tất cả tai họa”, hễ biết được một niệm khởi tức có sanh, là vọng; biết cái “Không khởi” cũng là sanh. Do có biết tức có năng sở, là sanh; biết sanh cũng là sanh, biết “Vô sanh” cũng là sanh, nên chư Tổ nói là “Cửa tai họa để chịu khổ luân hồi”.

Nay tham thiền là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh, chỗ đó chẳng phải sự biết hay không biết, cần phải tự ngộ, chẳng thể nói được, vì hễ nói là qua suy nghĩ.

Bất cứ chấp vào lời nói nào của Phật, của Tổ đều là bệnh, như bài Duy Tâm Quyết của ngài Vĩnh Minh trong phần phụ lục của Bửu Tạng Luận, nói đến 120 điều tà tông kiến giải, đều là chấp vào lời của Phật, của Tổ thành tà tông. Cho nên, Lục Tổ nói: “Nay ta gượng nói ra, khiến ngươi bỏ tà kiến, chớ chấp theo lời nói, mới cho biết ít phần”, hễ chấp là sai.

403. HỎI: Hành giả tham thiền nên đối phó với ngoại cảnh như thế nào để đi đúng tông chỉ?

  • Ø ĐÁP: Nhân duyên đến thì đối phó, nhân duyên qua là quên luôn, Giáo môn gọi là “Bất biến tùy duyên”, nhưng không có sự tác ý ở trong đó. Tức từ cửa lục căn tiếp xúc lục trần, không qua suy nghĩ sắp đặc trước như người thế gian. Hễ có sở đắc, có sở cầu, có sở sợ là nhiễm trước, không có sở cầu sở đắc là vô niệm. Vô niệm chứ chẳng phải dứt niệm, vì tự tánh vốn như thế.

404. HỎI: Vô niệm của niệm Phật và vô niệm của tham thiền có đồng nghĩa không?

  • Ø ĐÁP: Khác nhau. Vô niệm của niệm Phật không có nghi tình, không có nhân để ngộ, tham thiền là nuôi cái nhân khai ngộ. Vô niệm của niệm Phật gần như dứt niệm, ấy là chấp vào một bên, chẳng phải bản thể của vô trụ. Bản thể vô trụ thì niệm hay vô niệm chẳng dính dáng.

405. HỎI: Kiến tánh đến Mạt hậu Lao quan có thần thông không?

  • Ø ĐÁP: Có một câu chuyện như vầy:

Một vị Tăng phá được Trùng quan rồi, người thầy hỏi

Ban ngày ồn ào như thế, làm chủ được không?

ĐÁP: Được.

HỎI: Ban đêm ngủ mê làm chủ được không?

ĐÁP: Được.

HỎI: Lúc chiêm bao làm chủ được không?

ĐÁP: Được.

HỎI: Lúc không chiêm bao cũng không suy nghĩ, chủ ở đâu?

Vị Tăng trả lời không được, thầy nói:

- Về sau chớ học thêm gì nữa, cứ đói thì ăn, mệt thì ngủ, nhưng khi thức dậy phải tự hỏi: Nãy giờ đang ngủ, không suy nghĩ gì cả, chủ ở đâu?

Tham như thế trải qua 5 năm, một hôm đang ngủ, người bên cạnh đánh rơi chiếc gối phát ra tiếng, khiến ngộ triệt để, mới đến Mạt hậu Lao quan.

406. HỎI: Tại sao Tổ Bác Sơn nói “Tham thiền sợ nhất sự thông minh lanh lợi “?

  • Ø ĐÁP: Sự thông minh lanh lợi của người thế gian, trong Phật pháp gọi là trúng độc si nặng hơn người thật thà.Vì người thế gian dùng sự thông minh lanh lợi để tạo thêm ác nghiệp, sau này phải chịu ác báo. Lại, người thông minh ham ghi nhớ, học nhiều hiểu nhiều, chính sự ghi nhớ phân biệt ấy, Tổ Đạt Ma nói là “Việc bên chảo dầu sôi, lò lửa than”. Người tham thiền khởi lên nghi tình, tất cả đều không biết, như người khờ ngốc, thế gian chê cười, nhưng trong Phật pháp lại là trí huệ, dễ tiến bộ hơn.

407. HỎI: Hành giả tham thiền nên đối xử với mọi người như thế nào?

  • Ø ĐÁP: Pháp An Tâm của Tổ Đạt Ma nói: “Ghi nhớ phân biệt là việc bên chảo dầu sôi, lò lửa than”, ghi nhớ phân biệt là thức, không ghi nhớ phân biệt là trí. Hành giả tham thiền phải chuyển thức thành trí, không còn phân biệt nữa, mới là giải thoát, mới là tự tánh hiện.

Nay nói đến vấn đề này, tất cả nam là cha, nữ là mẹ, thật ra là thay phiên nhau làm cha mẹ, thay phiên nhau làm con cái; người nào cũng từng là cha mẹ của mình, là con cái của mình và ngược lại. Thay phiên lẫn nhau, không một người riêng biệt độc lập, nên gọi là Tứ ơn: Ơn Phật, ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn chúng sanh, mà ơn chúng sanh là bao gồm tất cả trong đó. Nay muốn báo ơn, phải tham đến kiến tánh, tự giác giác tha, thì tứ ơn đền đáp đủ.

408. HỎI: Sự trì giới của Hoằng Nhất Luật Sư như thế nào?

  • Ø ĐÁP: Về vấn đề giới luật, nhiều người dù mỗi nửa tháng tụng giới, theo giới luật hành trì, nhưng thường sai phạm mà không hay. Trì giới được trong sạch gọi là tịnh giới. Thời gần đây, người trì giới được trong sạch nhất là Hoằng Nhất Luật sư, Ngài tu theo pháp môn Tịnh Độ, thâm tâm niệm Phật, Phật tử gởi giấy cho Chùa để ghi chép những lời dạy của Phật, của Tổ, ghi chép xong, số giấy thừa mặc dù còn rất ít, Ngài phải viết thư báo cho Phật tử biết còn dư bao nhiêu, muốn sử dụng như thế nào, hoặc muốn gửi trở lại … Phật tử trả lời là cúng dường cho ngài, ngài mới dám sử dụng. Khi gởi tiền kèm trong thư từ, ngài cũng không chịu, cho việc làm như thế là trộm cắp, trộm cắp cước phí của bưu điện…

Ngài giữ giới trong sạch như thế cũng chỉ nói là giữ ngũ giới trong sạch mà thôi, chứ không dám nói là giữ được giới Sa Di, nên biết sự giữ giới rất khó và vi tế.

409. HỎI: Chẳng cùng với vạn pháp làm bạn là người gì?

  • Ø ĐÁP: Câu hỏi này cũng như các câu: “Thế nào là Phật?”, “Thế nào là ý của Tổ từ Tây Trúc sang?”... Dòng chảy ý thức ngày đêm hoạt động, làm che khuất tướng mạnh,  với những câu hỏi như thế, Tổ Sư thường trả lời là: “Cục cứt khô”, “Ba cân mè”… lời của Tổ trả lời đều không lọt vào ý thức, tâm suy lường chẳng thể đến, thình lình cắt đứt đường đi ý thức, khiến tự tánh hiện ra là ngộ. Hễ chậm trễ một tích tắt liền lọt vào suy nghĩ phân biệt, nên không ngộ được.

Như Thiền sư Hoài Nhượng đến tham vấn Lục Tổ, Tổ hỏi: “Vật gì  đến như thế?” Sư trả lời không được, khởi nghi trải qua tám năm sau mới kiến tánh.

Lời của chư Phật chư Tổ, ý không ở trong lời nói, nếu người nghe lĩnh hội ngay câu đó là không có cơ hội được ngộ, gọi là “Hướng thủ khởi xứ thừa đương”, là hiểu theo ý thức, tự cho là thông minh lanh lợi, chẳng biết đã nghịch với tông chỉ Thiền tông.

Ngay nơi lời của Tổ, hễ ngộ là ngộ liền, nếu không thì phát nghi, từ nghi đến ngộ.

Lời nói dù muôn ngàn sai biệt, nhưng ý chẳng có khác, hễ pháp vô sanh thì làm sao sanh ra đủ thứ lời nói, trăm điều lý lẽ, pháp đúng hay sai, mê hay ngộ? Nay không nên hướng vào lời của Phật của Tổ mà hiểu, nếu chấp vào đó cho là thật, tức thành tà tông kiến giải.

Tăng hỏi: … Lời nói thiền rất quan trọng, nếu không khéo trả lời thì phụ lòng người hỏi. Vậy hôm nay con xin Hòa thượng cho một chuyển ngữ: Thế nào là tất cả ngôn ngữ đều chẳng có nghĩa thật?

ĐÁP: Trước hết, Sư nói về “Nghiên cứu” đã nghịch với Tổ Sư Thiền, Tổ Sư Thiền chỉ cho thực hành, không cho nghiên cứu, ấy là sai. Lại, về vấn đáp. Tại có bệnh mới có cái hỏi, mà ấy cũng là bệnh giả, đáp là thuốc, cũng là thuốc giả. Phật Thích Ca có bốn thứ đáp, và một trong bốn thứ đáp là không trả lời, gọi là trí đáp.

410. HỎI: Vậy Hòa Thượng có thể lìa bốn câu đáp đó, cho một lời nói vô vị không?

  • Ø ĐÁP: Tại sao lại muốn đáp? Tại sao muốn lìa và không lìa? Trong Kinh Lăng Già, Đức Phật trả lời mười mấy câu hỏi của ngoại đạo, chỉ bằng một câu thôi.

Ví như ngoại đạo hỏi: tại sao có trời đất vũ trụ?

Phật nói: Đó là thế luận thứ nhất.

HỎI: Phật có trước hay pháp có trước?

Phật nói: Đó là thế luận thứ hai….

Vì các câu hỏi đều không đúng, chỉ là thế luận của ngoại đạo mà thôi.

411. HỎI: Con thấy dù là ngoại đạo hay chánh đạo cũng có thể tham thiền được?

  • Ø ĐÁP: Phải, nhưng tham thiền phải đúng theo tông chỉ Tổ Sư Thiền, mà khởi tâm của Sư đã nghịch với Tổ Sư Thiền rồi, do tâm chấp quá nặng, nên không thích hợp tham Tổ Sư Thiền. Nhiều người muốn khoe tài về sự hiểu biết của mình, thắng được người này người kia, hoặc cho rằng “Câu hỏi của tôi đã khiến các vị Hòa thượng Tôn túc trả lời không được”, như thế là tu theo ngã chấp, nên Đức Phật không trả lời.

Phật pháp không phải để tranh luận, để so sánh cao thấp, vì tất cả đều nằm trong đối đãi, hễ pháp sư nào chỉ giảng được hai câu là phải đọa địa ngục, mà pháp sư giảng thấu ba câu, người nghe không thấu qua được, lỗi tại người nghe chứ chẳng tại pháp sư. Chánh pháp là không tranh cãi, Lục Tổ nói: “Chẳng đồng với chánh kiến, chấp tay khiến hoan hỷ”, chỉ có vậy thôi.

Tổ Sư dùng các thủ đoạn chỉ là phương tiện tạm thời để phá chấp đối với đương cơ, không qua sự tác ý, đâu phải lời nói ra có sự nhất định và chơn lý? Nay sư đọc qua các công án, bắt chước thủ đoạn của Tổ, ấy là đọa địa ngục, vì chưa đến được chỗ đó mà muốn ăn cắp của người ta để sử dụng, Kinh Kim Cang nói là “Dùng âm thanh cầu ngã, là người hành tà đạo, chẳng thể thấy Như Lai”.

*Khai thị cô Diệu Thuật đang bệnh nặng

- Cô đã xem cuốn Tâm Kinh Lược Giải, biết sanh tử không có thật, cho nên, không cần cầu hết bệnh, có cầu ắt phải khổ, ảnh hưởng sự tham thiền. Muốn chấm dứt cái cầu, phải sẵn sàng khi nào chết cũng được, như vậy tâm mới được nhẹ nhàng. Vô sở sợ thì thân tâm thanh thản, nếu nghiệp mình nhẹ, bệnh sẽ mau hết, nếu có nghiệp nhân thì tùy nghiệp thôi, hễ chết giờ phút nào cũng được, không cần lo sợ, buông cả đầu óc, buông cả thân tâm, cũng như người tập bơi lội, buông nhẹ thân tâm thì tự nhiên không bị chìm.

-  Có hai điều: Một là tin tự tâm sẵn đủ năng lực thần thông trí huệ, bằng như Phật Thích Ca, chẳng kém chút nào; hai là khởi lên nghi tình tham tới mãi, dùng cái không biết chấm dứt tất cả biết, chỉ một đống hầm sâu đen tối, ngoài ra không biết tới cái khác.

412. HỎI: Hành giả tham thiền có cần trường chay và cấm dục hẳn không?

  • Ø ĐÁP: Tổ sư Thiền là Chánh pháp, không lọt vào tương đối, nói cần và không cần là tương đối, không dính líu đến vấn đề cần hay không cần, công phu của mình đến mức tự đưa đến chỗ đó.

413. HỎI: Để hàng phục vọng tâm, có thể dùng câu thoại đầu, câu niệm Phật hoặc câu chú để cho an tâm không?

  • Ø ĐÁP: An cái tâm đó? Được, nhưng làm như thế cũng như lấy đá đè cỏ, không có triệt để, cỏ không chết được, hễ dời cục đá đi cỏ lại mọc tiếp, hoặc lâu ngày rồi cỏ cũng có thể xuyên qua kẽ đá sinh trưởng tiếp. Còn tham câu thoại đầu ví như nhổ tận gốc, không bao giờ mọc trở lại. Nay sự thật chứng tỏ, nhiều người dùng câu “Lục tự Di Đà” để đè nén, nhất là phái khất sĩ sơn lâm, một mình tu trong núi rừng, dùng câu niệm Phật hay trì chú đè nén vọng tưởng, lúc đầu cảm thấy thanh thanh tịnh tịnh, do không phá ngã chấp, tham, sân, si còn nguyên, đè nén lâu ngày kiềm chế không được, sẽ xảy ra ba hiện tượng:

Một là phá giới, hai là ói máu, ba là phát điên. Vì không tu đúng Chánh pháp, chỉ lấy bản hiệu Phật pháp, tu theo ngoại đạo, khiến người đời không biết, phỉ báng Phật pháp, tạo tội địa ngục.

414. HỎI: Sư phụ nói đa số hành giả tham thiền tu không đúng tông chỉ, vậy tu thế nào mới đúng tông chỉ?

  • Ø ĐÁP: Tổ sư dạy người phải lìa tâm ý thức tham, bây giờ chúng ta còn đang học tham, phải dùng tâm ý thức mới tham được, một ngày kia đến đầu sào trăm thước, tiến lên một bước, lúc đó mới chơn thật lìa tâm ý thức, sát-na lìa tâm ý thức đó gọi là kiến tánh.

Nay dùng tâm ý thức tham như thế nào? Chỉ dùng tâm ý thức đề câu thoại đầu khởi lên nghi tình. Nhiều người nói tham thoại đầu cũng là có năng sở, vì có ta năng tham, và câu thoại là sở tham, ấy là không hiểu nghĩa hai chữ “Thoại đầu”, cho câu thoại là thoại đầu, ấy là sai. Ngài Hư Vân giải thích: “Khi chưa khởi niệm muốn nói mới là thoại đầu, đã khởi niệm rồi, mặc dù chưa nói ra, đã là thoại vĩ”.

Câu thoại đầu chỉ là tạm mượn để khởi lên nghi tình mà thôi, khi công phu đến thoại đầu thì câu thoại tự mất. Do đó, tham thiền không cho tìm hiểu câu thoại đầu, nếu dùng ý thức tìm hiểu tức có năng sở, là sai tông chỉ, vì chậm trễ một chút đã qua suy nghĩ rồi.

Cho nên, khi đề khởi câu thoại đầu, ở giữa câu hỏi lần thứ nhất và lần thứ nhì không có kẽ hở, liên tục như thế cho đến khi kiến tánh, hễ có kẽ hở là vọng tưởng nổi lên, không kẽ hở thì tham, sân, si dựa vào đâu mà khởi? Nên nói không cho nổi ý tìm hiểu bất cứ điều gì.

Do tập khí con người ham tìm hiểu, ra ngoài đường thấy đám đông tụ họp, cũng muốn dừng lại xem là chuyện gì. Các vị tu sĩ học từ Sơ đẳng đến Cao đẳng, đều là tìm hiểu bên ngoài, còn Tổ Sư Thiền thì chẳng phải vậy, những gì đã học được, đã biết được, kể cả đã ngộ được, đều phải cạo ra đem quăng xuống biển, luôn cả cái biết quăng đó cũng quăng luôn.

Như ngài Lai Quả nói: “Các ngươi đem những Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm chứa đầy bụng đó, phải cạo sạch hết, luôn cả cái bụng chứa cũng phải quăng luôn, mới được triệt để”. Nếu còn cái bụng, dù nay đã cạo sạch, nhưng sau này cũng sẽ chứa đầy trở lại, nên phải quăng bỏ luôn.

Biết và không biết do nơi tâm, bây giờ dùng cái không biết để chấm dứt tất cả tìm hiểu biết, tùy duyên biết, cuối cùng luôn cả cái không biết cũng phải sạch hết, thì làm sao có năng biết sở biết? Tâm đã quên rồi, biết và không biết dựa vào đâu? hễ một niệm chẳng sanh thì lấy gì làm năng sở?

Còn nói về chín chữ “Vô sở đắc, vô sở cầu, vô sở sợ”, nếu lòng tin tự tâm đã đầy đủ 100% thì có thể làm được chín chữ này.

415. HỎI: Tại sao nổi lên lòng Từ bi là vọng?

  • Ø ĐÁP: Đức Phật là có lòng đại từ đại bi, Phật tử người nào cũng muốn noi theo lòng Từ bi của Phật. Thế thì tại sao nói “Nổi lên lòng Từ bi là vọng”? Vì bây giờ chúng ta chuyên chú về tham thoại đầu, muốn giữ nghi tình, nuôi nghi tình cho mạnh để đạt đến ngộ, ngộ tức thành Phật, tham thiền chỉ e mình không ngộ, đừng sợ ngộ rồi không có lòng đại từ đại bi để độ chúng sanh. Nay trong lúc tham, hễ nổi lên một niệm Từ bi tức có kẽ hở, có tác ý, có năng sở, chẳng phải vô duyên từ, đồng thể bi, không đối đãi của Phật.

Chư Phật là không có ta làm Từ bi, chúng sanh nhận sự Từ bi, nên Kinh Kim Cang nói: “Độ hết tất cả chúng sanh mà chẳng có một chúng sanh để độ”, tức chẳng có năng độ và sở độ. Chẳng phải là không độ, chỉ là không qua sự tác ý, không có ta năng độ, là chúng sanh tự tánh tự độ, ai ăn nấy no.

416. HỎI: Tự tánh vô hình tướng, tại sao nhiều tên gọi?

  • Ø ĐÁP: Đáng lẽ tâm không có tên gọi, vì muốn diễn tả, nên đặt tên là TÂM. Tâm chẳng bản thể hình tướng, nhưng vì sự dụng của tâm vô lượng vô biên, nên tùy dụng lập danh: Vì không có sanh diệt, nên gọi là Niết-bàn; vì trí huệ dùng ra không qua tác ý, nên gọi là Bát-nhã; vì khắp không gian thời gian, chẳng có khứ lai, nên gọi là Như lai; vì sự thấy nghe trước mắt không đúng với thực tế, còn bản thể của chơn tâm thì luôn chơn thật đúng như thực tế, nên gọi là Chơn như … Nói tóm lại, tất cả tên gọi đều là dụng của tự tánh, tên dù muôn ngàn sai biệt, bản thể vốn chẳng khác.

417. HỎI: Thiền thất và Phật thất có khác nhau không?

  • Ø ĐÁP: Hôm nay Thiền thất và Phật thất tổ chức chung, tức người tham thoại đầu cũng tham trong bụng, người niệm Phật cũng niệm trong bụng. Người tham thiền thì lúc ngồi cũng tham, lúc đi cũng tham, người niệm Phật lúc ngồi cũng niệm Phật, lúc đi cũng niệm Phật, chẳng chướng ngại nhau.

Sở dĩ có chướng ngại là do tự tâm khởi chấp, nhất là chấp ngã, mới sanh ra sự so đo chống đối nhau. Tất cả pháp môn đều ở trong Phật pháp, chẳng có hơn kém, chỉ là cảm thấy pháp môn nào thích hợp với mình thì chọn pháp môn đó để tu.

Chữ Tăng nghĩa là hòa hợp chúng, chúng phải hòa hợp mới gọi là Tăng, chẳng những ở chung một chùa phải hòa hợp, cho đến cả thế giới đều phải hòa hợp. Trong Tam Bảo, Tăng Bảo quan trọng nhất, nếu không có Tăng Bảo trực tiếp truyền thừa sự giáo hóa thì Tam Bảo phải tiêu diệt nơi thế gian, vì không có người thực hành. Cho nên, nếu không hòa hợp thì chẳng thể thành Tăng.

Theo pháp Yết Ma của Phật, bất cứ công việc gì đều phải 100% thông qua Yết ma, hễ trong đó có một người không đồng ý thì sự yết ma đó cũng không thành tựu.

Nhưng từ xưa nay, trong Phật giáo không thực hành pháp Yết Ma của Phật, mà chỉ thực hành phần truyền giới mà thôi. Pháp Yết ma dịch là “Tác trì”, còn nay chúng ta giữ giới luật gọi là “Chỉ trì”, tức có làm là phạm.

Phật giáo hiện nay ngày càng suy sụp, là vì không có phá ngã chấp. Đáng lẽ đã phát tâm xuất gia, phải tu theo Chánh pháp, phải phá ngã chấp. Tiểu thừa phá được ngã chấp mới chứng quả A-la-hán, Đại thừa ngoài ngã chấp ra, phải phá hết pháp chấp. Nay người tự xưng tu pháp Đại thừa, chẳng những không phá ngã chấp, lại tăng trưởng ngã chấp.

* Khai thị ni chúng chùa Kiều Đàm

418. HỎI: Đối với các học Tăng học Ni còn nhỏ tuổi, để học biết nhiều rồi mới tham thiền, được không?

  • Ø ĐÁP: Tại sao gọi là Phật pháp? Tại sao gọi là Phật Giáo? Trước tiên phải hiểu nghĩa chữ “Phật” là gì: Phật nghĩa là giác ngộ.

Khi xưa, có người hỏi Phật:

- Ngài là ai?

- Tôi là người giác ngộ.

Từ đó, mọi người đều gọi Phật là Phật Đà, tức người giác ngộ. Giác ngộ đâu phải do học mà được? Phải tu mới giác ngộ được, mới giải thoát tất cả khổ. Chúng sanh cần sự giác ngộ, và Phật là người dạy cho chúng ta giác ngộ, ấy là nghĩa chữ Phật.

Thế mới biết, muốn giác ngộ cần phải tu, chứ không cần phải học. Thì tại sao hiện nay mọi người cứ chú trọng sự học hơn sự tu? Chính trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật quở A-nan: “Dẫu cho học rộng nghe nhiều, ghi nhớ nhiều kiếp, chẳng bằng một ngày tu đạo”. Vậy đã rõ ràng rồi!

Nay người học Kinh mà nghịch với Kinh, học giáo lý nghịch với giáo lý, chỉ muốn thêm nhiều kiến giải, chẳng biết cái tri kiến đó là nguồn gốc của vô minh.  Kiến, văn, giác, tri là bệnh đã thành từ vô thỉ, nay muốn chấm dứt tướng bệnh, hiện ra tướng mạnh, học rộng nghe nhiều là không được.

Do truyền thống sai lầm, các Phật học viện từ Sơ đẳng đến Cao đẳng, dạy người học từng chữ, từng câu, từng cuốn Kinh, người học chẳng hiểu được ý Phật trong Kinh, chỉ biết học thuộc lòng, có người hỏi trả lời được và dạy lại cho người khác, còn tự mình chẳng biết, đối với sự giải thoát cũng không biết tới, thành ra học kinh nghịch với kinh.

Dẫu cho sự học đúng cũng còn không được, vì đó là bỏ gốc theo ngọn. Cái gốc là cần phải giải thoát, cần phải tu, còn sự học chỉ là để biết về đường lối tu, chứ không phải học thêm kiến giải để chướng ngại sự tu. Nay vì ngã chấp cá nhân, lúc học Sơ đẳng, ngã chấp còn ít, học đến Trung đẳng thì ngã chấp to hơn, học hết Cao đẳng thì ngã càng to hơn. Ra làm Giáo thọ, được mọi người kính trọng, có địa vị cao, khiến càng tăng trưởng ngã chấp, càng trói buộc thêm, đâu thể giải thoát! Chỉ uổng phí công hạnh bỏ gia đình cha mẹ đi xuất gia,  lại tạo thêm tội địa ngục.

Người tu sĩ  ăn, mặc, ở, đều là của Đàn na tín thí, Phật tử cúng dường còn phải cung kính lễ bái, Kinh nói: “Hư tiêu tín thí, lạm nhận cung kính”, tức không có tư cách thọ nhận sự cung kính, bố thí của thiện tín. Xuất gia mà không có hạnh tu, chỉ ham học rộng nghe nhiều, tăng trưởng ngã chấp, tức giả mạo, là tội địa ngục. Phát tâm xuất gia cầu giải thoát, nay không được giải thoát, oan uổng một đời, lại gây thêm tội địa ngục, có phải đáng thương xót không?

Tại sao các Kinh Đại thừa đều muốn chúng ta chấm dứt sự tìm hiểu? Vì tìm hiểu phải dùng lục căn, chính Tâm Kinh nói: ”Vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, vô nhãn thức giới, cho đến vô ý thức giới …” chữ VÔ này chẳng phải tuyệt đối không có, là không thật, là tướng bệnh đã thành từ vô thỉ. “Tri giác nãi chúng sanh”, chính cái biết đó là chúng sanh.

Vậy là vô tri vô giác như gỗ đá sao? không phải. Cái tri của bản tánh gọi là vô duyên tri, cũng gọi là chánh biến tri. Sao gọi là bản tri? Tri tức tự tánh, tự tánh tức tri, là dùng cái tri làm bản thể, như cái đầu của mình, nay muốn tri thêm, ví như trên đầu lại mọc thêm đầu, khiến chướng ngại cái đầu vốn có, nên phải cắt bỏ đầu thứ hai.

Sao gọi Vô duyên tri? Vì không có đối đãi, chẳng năng tri sở tri. Nếu lấy Phật pháp, Phật học làm sở tri, tức nghịch với bản tri của tự tánh. Muốn giải thoát phải trở về tự tánh, nay lại càng đi xa hơn, làm sao trở về? làm sao giải thoát? tướng mạnh làm sao có thể hiện ra?

Sao gọi Chánh biến tri? Chánh là đúng với thực tế, vọng tri hiện nay của mình là không đúng thực tế, bất tri cũng vậy, tri và bất tri là đối đãi. Biến là phổ biến, khắp không gian thời gian, khắp không gian thì chẳng thể chỉ ra, khắp thời gian không có gián đoạn, không thiếu xót. Sự học của mình có cái biết có cái không biết, vậy làm sao gọi là khắp? Lại có gián đoạn tức có sanh diệt, sanh diệt là vọng, tự tánh không sanh diệt,  không sanh diệt tức không cần học, vốn đã sẵn sàng, chỉ cần mình phát hiện.

Nay dẫu cho học từ năm này qua năm kia, kiếp này qua kiếp khác, cũng không thể bằng Phật Thích Ca được. Vả lại, sự học không đúng với thực tế, thực tế là phải tự ngộ. Nếu do học được thì không cần tu, không cần chứng, không cần ngộ, chỉ nhờ Phật nói cho biết là xong! Phật Thích Ca đã nói: “Thuyết pháp 49 năm chưa từng nói một chữ”, chính là không nói ra được, chỉ có thể nói ra đường lối để đi đến tự ngộ, chỉ là dùng sự hiểu biết của bản thân, chứng tỏ tất cả sự hiểu biết đều sai lầm mà thôi.

Đức Phật nói: “Phàm là lời nói đều chẳng có nghĩa thật”, lời nói đã chẳng nghĩa thật thì học để làm gì? Cần phải tự ngộ, đem những thời gian hao tổn ấy để tu phải mau giải thoát hơn không?

419. HỎI: Hàng xuất gia nếu không học kinh điển thì lấy gì trả lời câu hỏi của Phật tử?

  • Ø ĐÁP: Theo truyền thống, Giáo môn phần nhiều ham học rộng nghe nhiều, nên A nan bị Phật quở: “Dẫu cho ngươi học rộng nghe nhiều, ghi nhớ nhiều kiếp, chẳng bằng một ngày tu đạo”. Nên biết, Phật là muốn chúng ta tu, tu để phát hiện cái vốn sẵn có của chính mình, chứ không phải muốn chúng ta học rộng nghe nhiều.

Kinh Pháp Hoa thí dụ: “Trong áo mình có hạt châu Như ý mà không biết sử dụng, cứ cho mình là nghèo, đi ăn xin khắp nơi, sau được người trí chỉ ra, mới ngộ mình vốn sẵn đủ, sao lại phải đi ăn xin?”. Chính mình có diệu dụng bằng như chư Phật mà không biết đem ra xài, cứ cho mình là thiếu thốn, đi học đủ thứ. Lại, học không đúng nghĩa, học kinh nghịch với kinh, học giáo lý nghịch với giáo lý.

Kinh sách như ngón tay chỉ mặt trăng, hễ nhìn theo ngón tay chỉ sẽ thấy mặt trăng, nay người không chịu nhìn về mặt trăng, chỉ nhìn vào ngón tay, phân tích ngón tay, từng chữ, từng câu, đến từng quyển Kinh, từ Kinh này sang Kinh khác, đều là nghiên cứu ngón tay. Ấy là việc sai lầm từ lâu, nên Phật nói là thật đáng thương xót.

Pháp sư giảng Kinh nếu chỉ giảng được hai câu phải bị đọa. Có một công án như sau:

Thiền sư Bá Trượng thăng tòa thuyết pháp, dưới tòa có một ông lão, hằng ngày đều đến nghe giảng. Một hôm xuống tòa, mọi người đều ra về, chỉ còn một mình ông lão ở lại.

Sư hỏi: Sao  ông không về?

Đáp: Con không phải là người, là con chồn phía sau núi. Trước thời Phật Ca-diếp, con cũng làm trụ trì ở núi này, có người đến hỏi con “Người đại tu hành còn lọt vào nhân quả không?” Con đáp: “Chẳng lọt nhân quả”, vì trả lời sai một chữ, đọa làm chồn năm trăm kiếp, nay xin Thiền sư chỉ dạy cho.

Sư nói: nay ông hãy hỏi ta.

Ông lão hỏi: “Người đại tu hành còn lọt vào nhân quả không?

Sư đáp: “Bất muội nhân quả”.

Ông Lão liền ngộ, thoát thân chồn và xin Ngài đem thân chồn thiêu theo nghi lễ của người xuất gia.

Quý vị thử nghĩ, chỉ nói sai một chữ đã phải đọa làm thân chồn năm trăm kiếp, nay muốn làm thầy để chỉ dạy người, đâu phải dễ dàng?!

» Video
» Ảnh đẹp
» Từ điển Online
Từ cần tra:
Tra theo từ điển:
» Âm lịch